Câu 1: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của đảng viên như thế nào?
Câu 2: Những nội dung cơ bản về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay?
Câu 3: Trình bày hiểu biết của Anh, Chị trong việc phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam? Liên hệ bản thân trong việc phấn đấu trở thành Đảng viên?
Câu 4: Vấn đề mà Anh, Chị tâm đắc nhất khi tham gia lớp bồi dưỡng kết nạp Đảng; Anh, Chị có những kiến nghị, đề xuất gì cho công tác tổ chức, truyền đạt nội dung, v.v... với Ban tổ chức lớp học nhằm rút kinh nghiệm tổ chức tốt hơn các lớp bồi dưỡng kết nạp Đảng cho sinh viên sau này?
Câu 5: Đồng chí cho biết nội dung và ý nghĩa của việc học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong quá trình phấn đấu của đồng chí để trở thành Đảng viên.
Câu 6: Đồng chí hãy phân tích những truyền thống quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam? Những truyền thống đó đang được Đảng ta giữ gìn và phát huy ra sao ?.
Câu 7: Đồng chí cần làm gì và phấn đấu như thế nào để trở thành đảng viên ? Vì sao vấn đề xây dựng động cơ vào Đảng đúng đắn được đặt lên hàng đầu và có ý nghĩa quyết định đối với một đảng viên ? Điều lệ Đảng quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền của đảng viên như thế nào ?.
Câu 8: Đồng chí hãy trình bày 5 bài học lớn của cách mạng Việt nam được nêu trong Cương lĩnh năm 1991. Phân tích bài học mà đồng chí thấy tâm đắc nhất. Ý nghĩa của bài học này đối với công việc của đồng chí ?
Câu 9 : Bản chất giai cấp công nhân của Đảng được thể hiện ở những điểm chủ yếu nào trong Điều lệ Đảng ?
Câu 10 :  Đồng chí hãy phân tích sự cần thiết của việc học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Liên Hệ việc thực hiện cuộc vận động ở cơ quan, đơn vị đồng chí ?
Câu 11: Phân tích những đặc trưng cơ bản của mô hình chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng?
Câu 12: Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ (1954-1975) như thế nào? ý nghĩa lịch sử ?

Câu 13: Đảng lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) như thế nào? ý nghĩa lịch sử của thắng lợi?

Câu 14 : Đảng đã lãnh đạo đấu tranh và khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám năm 1945 như thế nào?

Câu 15: Vì sao nói Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt quyết định của cách mạng Việt Nam ?

Câu 16: Vì sao hiện nay Việt Nam không chấp nhận đa nguyên, đa đảng ?

Câu 17: Trình bày hướng phấn đấu của bản thân để trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam ?

Câu 18: Vai trò của Đảng trong bối cảnh xã hội hiện nay ?

 




Câu 1: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của đảng viên như thế nào?
Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc.
Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.
Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.
Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế của thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.
Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng lãnh đạo, tôn trọng và phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Đảng kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân, góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới.
Đảng Cộng sản Việt Nam dược xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo cách mạng của Đảng.
Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam là những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, đáp ứng cơ bản yêu cầu, nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng hiện nay, là cơ sở quan trọng tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam là kết tinh của trí tuệ Việt Nam, là văn bản quy định nguyên tắc của Đảng do những những đảng viên ưu tú đại diện cho nhân dân Việt Nam soạn thảo và lấy ý kiến rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân.
Điều 1 Chương I Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định về tiêu chuẩn của đảng viên như sau:
1.      Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng.
2.      Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện: thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ của đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở Đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng.
Điều 2 Chương I Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định về nhiệm vụ của đảng viên như sau:
1.      Tuyệt đối trung thành với mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Đảng.
2.      Không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ kiến thức, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, quan liêu, tham những, lãnh phí và các biện pháp tiêu cực khác. Chấp hành quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm.
3.      Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; chăm lo đời sống vật chất tinh thần và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân; tích cực tham gia công tác quần chúng, công tác xã hội nơi làm việc và nơi ở; tuyên truyền vận động gia đình và nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
4.      Tham gia xây dựng, bảo vệ đường lối, chính sách và tổ chức của Đảng; phục tùng kỷ luật, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên tự phê bình và phê bình, trung thực với Đảng; làm công tác phát triển đảng viên; sinh hoạt đảng và đóng đảng phí đúng quy định.
Điều 3 Chương I Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định về quyền hạn của đảng viên như sau:
1.      Được thông tin và thảo luận vấn đề về Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đương lối, chủ trương, chính sách của Đảng; biểu quyết công việc của Đảng.
2.      Ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.
3.      Phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời.
4.      Trình bày ý kiến khi tổ chức đảng nhận xét, quyết định công tác hoặc thi hành kỷ luật đối với mình.
Đảng viên dự bị có các quyền trên đây, trừ quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo của Đảng.
            Như vậy, các Điều 1, Điều 2, Điều 3 trong Chương I Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy định một cách đầy đủ về tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của đảng viên. Mỗi người khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng đều phải nghiêm túc thực hiện những quy định này về đảng viên để xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch và vững mạnh như lời của Bác Hồ nhận định khi Đảng ta tròn 30 tuổi:
"Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao
Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình.
Đảng ta là đạo đức, là văn minh,
Là  thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no”.
Câu 2: Những nội dung cơ bản về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay?
            Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thiên tài của nhân dân ta, là anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hóa thế giới. Suốt cuộc đời, Người hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Ham muốn tột bậc của người thật là giản dị: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn được độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Câu ấy được Bác nói khi trả lời các nhà báo nước ngoài vào đầu năm 1946. Câu nói ấy có ý nghĩa lớn lao trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng đất nước. Câu nói ấy thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc và giá trị đạo đức lớn lao.
            Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tinh hoa văn hóa của nhân loại, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta; là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi theo.
            Theo Người thì đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển và phát triển con người, như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Người nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Vì thế đạo đức là cái gốc của người cách mạng, một người muốn trở thành người cách mạng thì phải có đạo đức và thường xuyên rèn luyện đạo đức “Cũng như ngọc, càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Sinh thời Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc rèn luyện đạo đức, coi việc rèn luyện đạo đức trong đội ngũ cán bộ như một việc làm thường xuyên, giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng đạo đức cách mạng. Người nói rằng: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.
            Trong giai đoạn hiện nay, trước xu hướng toàn cầu hóa, sự hội nhạp kinh tế quốc tế đã làm cho văn hóa của các quốc gia có dịp để cộng hưởng nhau. Sản phẩm của sự giao thoa văn hóa là sự tồn tại của những nét văn hóa mang dáng dấp của phương Tây. Trước sự phát triển của nền kinh tế thì một bộ phận cán bộ chạy theo xu hướng thị trường ăn chơi, xa xỉ, suy thoái đạo đức, lối sống, quên đi nhiệm vụ cách mạng của mình. Sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân đang dần làm xói mòn lý tưởng cách mạng trong bộ phận cán bộ và các tầng lớp nhân dân, làm giảm tinh thần đoàn kết, giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.
            Nhận định tình hình thực tế của sự xuống cấp về mặt đạo đức, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đề ra Chỉ thị 06-CT/TW ngày 7 tháng 11 năm 2006 về việc thực hiện Cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Mục đích của cuộc vận động là làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn  của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, thanh niên, học sinh… nâng cao đạo đức cách mạng, cần kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội.
            Trải qua bốn năm thực hiện cuộc vận động, các địa phương, các ban ngành đoàn thể đã hưởng ứng nhiệt tình cuộc vận động. Các cấp, các ban ngành đoàn thể đã cụ thể hóa cuộc vận động thành những hành động cụ thể ví dụ như Trường Đại học Đà Lạt đã tổ chức Hội thi “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”  ngày 16 tháng 5 năm 2011. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phát động cuộc Hành trình xuyên Việt từ Làng Sen đến bến Nhà Rồng thu hút nhiều bạn thanh, thiếu niên, sinh viên và học sinh tham gia.
            Vậy nội dung cơ bản về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là gì? Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có bốn nội dung cơ bản sau:
Một là, thực hiện “trung với nước, hiếu với dân”, mỗi cán bộ, đảng viên phải trung thành vô hạn với mục tiêu lý tưởng của Đảng, của dân tộc, tham gia tích cực vào việc đẩy mạnh công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
            Chủ tịch Hồ Chí Minh mượn khái niệm “trung, hiếu” trong tư tưởng đạo đức truyền thống và đưa vào một nội dung mới “ Trung với nước, hiếu với dân” tạo nên một cuộc cách mạng trong quan niệm về đạo đức. Người nói: “Đạo đức cũ như người ngược xuống đất, chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”. Người cho rằng trung với nước phải gắn liền hiếu với dân vì nước là nước của dân còn dân là chủ nhân của nước, bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, cán bộ là đày tớ của dân chứ không phải là “quan cách mạng”. Trung với nước là tuyệt đối trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, trung thành với con đường đi lên của đất nước; là suốt đời phấn đấu cho Đảng cho cách mạng. Hiếu với dân thể hiện ở chỗ thương dân, tin dân, phục vụ nhân dân hết lòng, người cách mạng là phải gần dân , kính trọng và học tập nhân dân, dựa vào dân và lấy dân làm gốc. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chúng ta cần:
Thứ nhất, trung thành vô hạn với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, nền văn hóa, bảo vệ Đảng, chế độ và sự nghiệp đổi mới, bảo vệ lợi ích của đất nước, dân tộc.
Thứ hai, luôn quan tâm đến lợi ích của nhân dân, tôn trọng nhân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, giải quyết kịp thời những yêu cầu, kiến nghị của dân, biết tập hợp nhân dân, phát huy sức mạnh của dân, tổ chức, động viên cho nhân dân phấn đấu thoát khỏi đói nghèo, “làm giàu cho chính mình, cho đất nước”.
Thứ ba, có ý chí vươn lên, thực hiện mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phấn đấu để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Thứ tư, có ý thức giữ gìn đoàn kết dân tộc, đoàn kết trong Đảng, trong nhân dân; kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng trước mọi mưu đồ chia rẽ dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, chia rẽ Đảng với nhân dân của các thế lực thù địch, cơ hội.
Thứ năm, có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc, có lương tâm nghề nghiệp trong sang; ham học hỏi, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Thứ sáu, giải quyết đúng đắn mối quan hệ cá nhân – gia đình – tập thể - xã hội; quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, theo lời dạy của Bác: “Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”
Hai là, thực hiện đúng lời dạy: “ Cần, kiệm, liêm, chinh, chí công, vô tư” nêu cao phẩm giá con người Việt Nam trong thời kỳ mới.
            Người cách mạng phải thực hiện “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” thường xuyên như lời dạy của người:
Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa, thì không thành trời
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức, thì không thành người.
Cần là siêng năng, chăm chỉ; lao động có kế hoạch, có hiệu quả, có năng suất với tinh thần tự lực cánh sinh.
Kiệm là tiết kiệm ( tiết kiệm thời gian, tiết kiệm công sức, tiết kiệm của cải..) của nước, của dân; “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”, không phô trương hình thức, không liên hoan chè chén lu bù.
Liêm là luôn tôn trọng của công và của dân. Phải “trong sạch không tham lam” tiền của địa vị danh tiếng.
Chính là thẳng thắn, đứng đắn. Người đưa ra một số yêu cầu: Đối với mình thì không được tự cao, tự đại, tự phụ, phải khiêm tốn học hỏi, phát triển cái hay, sửa chữa cái dở của minh. Đối với người – không nịnh người trên, không khinh người dưới, thật thà không dối trá. Đối với công việc thì phải để việc công lên trên, lên trước, việc thiện nhỏ mấy cũng làm, việc ác, nhỏ mấy cũng tránh.
Chí công vô tư, là công bằng không thiên tư, thiên vị; làm việc gì cũng không nghĩ đến mình trước, chỉ biết vì Đảng, vì dân tộc. “Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Chí công vô tư là nêu cao chủ nghĩa tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân.
Các đức tính : “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” là những đức tính mà mỗi đảng viên cần phải có và phải được thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng, gắn chúng vào những việc làm thực tế thì việc học tập tu dưỡng mới có hiệu quả.
Thứ nhất là phải tích cực lao động, học tập, công tác với tinh thần sáng tạo, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn của Nhà nước, của tập thể, của chính mình một cách có hiệu quả.
Thứ hai là quý trọng công sức lao động và tài sản của tập thể, của nhân dân; không xa hoa, lãng phí, không phô trương hình thức.
Thứ ba là kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, không để cho lợi ích cá nhân chi phối. Chống thói chạy theo danh vọng, địa vị, giành giật lợi ích cho mình, lạm dụng quyền hạn, chức vụ để chiếm đoạt của công; cục bộ địa phương, thu vén cho gia đình, cá nhân.
Thứ tư là thẳng thắn, trung thực, bảo vệ chân lý, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ người tốt; chân thành, khiêm tốn; không chạy theo chủ nghĩa thành tích, bao che, giấu giếm khuyết điểm…
Kiên quyết chống bệnh lười biếng, chạy theo lối sống hưởng thụ, vị kỷ, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, làm dối, làm ẩu. Có thái độ rõ rệt lên án và kiên quyết đấu tranh, chống tham những, tiêu cự, loại trừ mọi biểu hiện vô liêm, bất chính ra khỏi đời sống xã hội.
Người cách mạng phải nêu cao những phẩm giá đạo đức của con người Việt Nam để trở thành đạo đức cách mạng. Trong tác phẩm “ Sửa đổi lối làm việc” năm 1947, Bác căn dặn: “Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm ngày càng ít, mà những tính tốt như sau ngày càng thêm:
Nói tóm tắt, tính tốt ấy có năm điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm.
Nhân là thật thà yêu thương, hết long giúp đỡ đồng chí đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền.
Nghĩa là không có tâm tư, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn
Trí là không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sang suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xem việc. Vì vậy mà biết làm việc có lợi tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cân nhắc người tốt, đề phòng người gian.
Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sụ vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần thì phải có gan hy sinh cả tính mạng cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.
Liêm là không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng. không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa”.
Ba là, nâng cao ý thức dân chủ và kỷ luật, gắn bó với nhân dân, vì nhân dân phụ vụ. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà lãnh đạo gần dân, luôn luôn lắng nghe nhân dân, tôn trọng nhân dân, được nhân dân quý mến. Bác nhiều lần về thăm bà con nông dân, những câu hỏi: “Hầm trú ẩn có an toàn không? Mũ phòng không có chắc chắn không? Đồng bào có đủ ăn, đủ mặc không?” được Bác ân cần hỏi han đồng bào.
Người luôn dạy cán bộ đảng viên việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân hết sức tránh; phải gần dân, hiểu dân, học dân, kính trọng nhân dân; hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Người phê phán quyết liệt óc “quan cách mạng” và tự mình, Người thường xuyên đi xuống cơ sở để tìm hiểu, “lắng nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người không quan trọng”.
Cách mạng Tháng Tám thành công, cũng là lúc Việt Nam vừa trải qua nạn đói khủng khiếp, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương tăng gia sản xuất, mỗi tháng mỗi người nhịn ăn ba lần để góp gạo cứu đói, và Người cũng đóng góp lon gọn của mình như mọi người dân. Đi thăm trại tù binh trong chiến dịch Biên giới về, Người không có áo khoác ngoài vì Người đã cho tên quan ba thầy thuốc người Pháp bị rất cóng. Những tình cảm đó thật là lớn lao thể hiện lòng nhân ái, khoan dung, nhân hậu của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Để thực hiện tốt những phẩm chất này, mỗi người cách mạng cần phải thực hiện:
Thứ nhất là mỗi cán bội, đảng viên của Đảng phải đặt mình trong tổ chức, trong tập thể, phải tôn trọng nguyên tắc, pháp luật, kỷ cương.
Thứ hai là phải gần dân, học dân, có trách nhiệm với dân, khác phục cho được thói vô cảm, lãnh đạm, thờ ơ trước khó khăn, thắc mắc, những đau khổ của nhân dân.
Thứ ba là coi trọng tự phê bình và phê bình, “phải nghiêm khắc với chính mình”. Phê bình có mục đích trong sáng, có lý, có tình. Khắc phục bệnh chuộng hình thức, thích nghe lời khen (thậm chí xu nịnh), tâng bốc nhau, không dám nói thẳng, nói thật… để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Đồng thời, cần phê phán những biểu hiện xuất phát từ những động cơ cá nhân, vụ lợi mà “đấu đá”; nhân danh phê bình đả kích, lôi kéo, chia rẽ, làm rối nội bộ.
Bốn là, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần phát huy chủ nghĩa yêu nước gắn chặt với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, đoàn kết, hữu nghĩ giữa các dân tộc, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
Thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa với tinh thần Việt Nam sẵn sằng là bạn, đối tác tin cậy với các quốc gia trên thế giới, phấn đấu vì độc lập, hòa bình và phát triển.
Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng lớn và sau sắc. Đó là sự tôn trọng, hiểu biết, thương yêu và đoàn kết với giai cấp vô sản toàn thế giới, với tất cả các dân tộc và nhân dân các nước, với những người tiến bộ trên toàn cầu, chống lại mọi sự chia rẽ, hằn thù, bất bình đảng và phân biệt chủng tộc; chống lại chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, sôvanh, biệt lập và chủ nghĩa bành trướng bá quyền…
Để làm được những điều đó chúng ta cần phải:
Thứ nhất là tôn trọng độc lập, chủ quyền các nước khác, mở rộng hợp tác cùng có lợi, cùng nhau phấn đấu vì hòa bình, phát triển, hợp tác, chống chiến tranh, đói nghèo, bất công, cường quyền, áp đặt trong quan hệ quốc tế. Với những vấn đề của quá khứ, lịch sử cần xóa bỏ mặc cảm, hận thù, nhìn về tương lai, xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc.
Thứ hai là chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nguồn lực bên trong với nguồn lực bên ngoài để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước, phấn đấu đến năm 2010 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Thứ ba là phải nâng cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào, tự tôn dân tộc; đấu tranh chống biểu hiện của dân tộc hẹp hòi, tự ti; đồng thời phê phán tư tưởng ngoại lai, vong bản, vọng ngoại, ảo tưởng trước chủ nghĩa tư bản.

Câu 3: Trình bày hiểu biết của Anh, Chị trong việc phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam? Liên hệ bản thân trong việc phấn đấu trở thành Đảng viên?
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Đảng không ngừng lớn mạnh nhờ thường xuyên làm tốt công tác phát triển đảng, chăm lo lo bồi dưỡng những người ưu tú trong giai cấp công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp xã hội khác để bổ sung vào đội ngũ của mình. Đảng chỉ kết nạp những người thực sự ưu tú, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, suốt đời trung thành phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các Nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước như Chương I Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định. Để trở thành một người đảng viên chúng ta phải thấm nhuần tư tưởng của Đảng, thực hiện nghiêm túc Điều lệ Đảng; hiểu được đường lối, chính sách của Đảng và thực hiện tốt những việc sau:
Một là, cần xác định động cơ vào Đảng đúng đắn
Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Vì sao chúng ta vào Đảng? Phải chăng để thăng quan, phát tài? Không phải!... Chúng ta vào Đảng là để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm tròn nhiệm vụ của người đảng viên”. Bác còn căn dặn nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay khoan hãy vào Đảng. Bởi vì Đảng là tổ chức cách mạng có sứ mệnh cáo cả đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh cho độc lập và chủ nghĩa xã hội, chứ không phải là nơi để tìm kiếm danh vọng, địa vị, thu hái lợi lộc.
Phấn đấu vào Đảng là để được đứng trong một tổ chức của những người cùng chung chí hướng đấu tranh xây dựng một xã hội mới tốt đẹp dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vào Đảng là dấn thân theo lý tưởng cách mạng, chấp nhận hy sinh, phấn đấu, quyết tâm đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã chọn là xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Cái được lớn nhất khi vào Đảng là được phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, được Đảng và nhân dân tin cậy, yêu mến.
Trong thời kỳ xây dựng đất nước, mỗi thanh niên chúng ta ra sức nỗ lực phấn đấu trở thành một đảng viên cống hiến công sức, trí tuệ để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội đáp ứng mong đợi của Đảng, của Bác Hồ và của toàn dân tộc ta. Muốn trở thành một đảng viên trước hết phải xác định động cơ vào Đảng đúng đắn. Để có những động cơ vào Đảng đúng đắn của chúng ta phải làm gì?
Thứ nhất, đó là cần phải hiểu sâu sắc bản chất, mục đích của Đảng, tích cực góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu nhiệm vụ do Đảng đề ra; thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng, đấu tranh khác phục mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, vụ lợi, xa lạ với bản chất của người chiến sỹ cách mạng.
Thứ hai, là trong điều kiện hòa bình, Đảng cầm quyền và cơ chế thị trường, mỗi người chúng ta nói chung, người đảng viên nói riêng, luôn phải đối mặt với biết bao khó khăn, thử thách và những cám dỗ quyền lực, tiền tài… Nếu người vào Đảng không có động cơ vào Đảng trong sáng sẽ không thể vượt qua được những thử thách, không thắng nổi sự cám dỗ vật chất và những thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Vì vậy mỗi người đảng viên phải xác định rõ động cơ vào Đảng của mình. Vào Đảng thì phải vững vàng với bản lĩnh chính trị không mơ hồ, thường xuyên trau dồi kiến thức, bản lĩnh chính trị và đạo đức cách mạng để có thể vững vàng trên con đường của Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã chọn.
Hai là,  rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng.
Bản lĩnh chính trị thể hiện ở nhận thức đúng đắn và kiên định mục tiêu, lý tưởng đã chọn; trong bất kỳ tình huống khó khăn nào cũng không bao giờ giao động, giảm sút niềm tin và ý chí chiến đấu. Khí tiết của người cách mạng là “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Đồng thời bản lĩnh chính trị còn thể hiện ở tinh thần độc lập, sáng tạo, không thụ động, ỷ lại, bảo thủ, trì trệ. Trong điều kiện hiện nay, khi cách mạng thế giới tạm lâm vào thoái trào, cần đặc biệt đến sự kiên định lập trường, quan điểm chính trị, trung thành với mục tiêu lý tưởng của Đảng, với lợi ích của nhân dân lao động và của dân tộc. Bản lĩnh chính trị còn thể hiện ở ý thức độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; ý thức về hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; ý thức về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân…
Để có được bản lĩnh chính trị vững vàng mỗi người chúng ta cần:
Thứ nhất, cần đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, giữ vững niềm tin. Trước khó khăn thử thách không nao núng tinh thần, không mất phương hướng chính trị và có thái độ, chính kiến rõ ràng, kiên định.
Thứ hai, bản lĩnh chính trị được hình thành chủ yếu bằng nỗ lực của bản thân trong quá trình học tập, nắm vững lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng. Tích cực học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt, tích lũy kiến thức và kinh nghiệm, làm giàu vốn hiểu biết của mình. Bản lĩnh chính trị được rèn luyện qua hoạt động thực tiễn nên mỗi đảng viên cần thường xuyên rèn luyện mình qua thực tế sản xuất, công tác, hoạt động chính trị - xã hội. Chỉ có dự hiểu biết sâu rộng, trải nghiệm dày dạn qua trường học đấu tranh thực tiễn, chúng ta mới trở nên vững vàng, kiên định.
Thứ ba, cần thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng. Có đạo đức cách mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Đạo đức cách mạng có nội dung hết sức phong phú, nhưng như lời Bác Hồ dạy: “Nói tóm tắt, thì đạo đức cách mạng là: Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, Đó là điều chủ chốt nhất”. Trong Đảng ta, biết bao đồng chí đã vì dân, vì Đảng mà hy sinh oanh liệt, đã nêu gương chói lọi về đạo đức cách mạng. Ngày nay đại bộ phận đảng viên vẫn giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, được nhân dân quý mến và tin cậy. Đạo đức cách mạng hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa cá nhân, Chủ nghĩa cá nhân gây ra nhiều tai hại, có khi nghiêm trọng. Xây dựng đạo đức cách mạng phải đi đôi với chống chủ nghĩa cá nhân. Như Bác Hồ đã từng dạy: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”.
Đạo đức cách mạng là kết quả của quá trình tu dưỡng, rèn luyện suốt đời, không ngừng nghỉ, như Bác Hồ đã dạy: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Ngày nay, đạo đức cách mạng còn là ý chí, quyết tâm và góp sức đưa đất nước ngày càng phát triển, trở thành quốc gia giàu mạnh, văn minh, nhân dân làm chủ xã hội và có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Không thể có đạo đức cách mạng nếu làm gì cũng tính toán thiệt hơn với Đảng, lúc nào cũng đòi hỏi hưởng thụ, muốn lựa chọn công việc theo ý thích và lợi ích cá nhân, sống cơ hội, thực dụng, coi đồng tiền là tất cả; lợi dụng cơ chế, chính sách để tham nhũng, lãng phí, làm giàu phi pháp…
Đạo đức cách mạng để rèn luyện thì cần phải gắn vào những việc làm cụ thể, lấy hiệu quả làm thước đo. Bác Hồ luôn đặt đạo đức bên cạnh tài năng để xây dựng con người cách mạng “vừa hồng, vừa chuyên”. Bác luôn gắn đạo đức với những hành động cụ thể, lời nói phải đi đôi với việc làm và hiệu quả trên thực tế. Bác nói: “Phải lấy kết quả thiết thực đã góp sức bao nhiêu cho sản xuất và lãnh đạo sản xuất mà đo ý chí cách mạng của mình. Hãy kiên quyết chống bệnh nói suông, thói vô trương hình thức, lối làm việc không nhằm mục đích nâng cao sản xuất”.
Thứ tư, là đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là phủ định vai trò, lợi ích cá nhân. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở thích riêng, đời sống riêng của bản thân của gia đình.
Lợi ích riêng của cá nhân được tôn trọng khi nó không trái với lợi ích chung của cộng đồng. Đường lối của Đảng là kết hợp hài hòa ba loại lợi ích: lợi ích toàn xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, trong đó lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp. Đảng luôn luôn tôn trọng và quan tâm đến lợi ích cá nhân, đồng thời kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, đặt lợi ích cá nhân mình lên trên, lên trước lợi ích tập thể và toàn xã hội. Bác Hồ dạy: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi với quần chúng, thực sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của tập thể, của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”.
Ba là nâng cao năng lực, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao thể hiện vai trò gương mẫu, tiên phong trong công việc, đảm bảo chất lượng công việc đem lại hiệu quả cao. Không những chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao mà một người đảng viên phải giám nghĩ giám làm, sẵn sàng làm tốt nhiệm vụ mà nhân dân giao phó trong mọi hoàn cảnh. Phải phấn đấu trở thành người sản xuất, công tác, chiến đấu và học tập giỏi. Để xứng đáng với vai trò gương mẫu, tiên phong “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Để làm tốt được nhiệm vụ được giao một người đảng viên phải có:
Thứ nhất là tinh thần nhiệt tình cách mạng đặc biệt là coi trọng và nâng cao năng lực trí tuệ là năng lực thực tiễn với tinh thần:
“Đèo cao thì mặc đèo cao
Trèo lên đỉnh núi ta cao hơn đèo”
Thứ hai là không ngừng học tập, thường xuyên tiếp nhận những hiểu biết mới để đủ kiến thức đáp ứng đáp ứng các yêu cầu do thực tiễn đặt ra. Coi trọng việc học tập chính trị cùng với chuyên môn nghiệp vụ. Đảng không kết nạp những người lười học tập, hoặc học lấy lệ, chỉ cốt lấy bằng cấp, không thể hiện được tính tiên phong, gương mẫu.
Thứ ba là cần nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn gắng với năng lực thực tiễn để ứng dụng sáng tạo kiến thức vào thực tiễn.
Bốn là gắn bó với tập thể, với nhân dân, tích cực tham gia hoạt động đoàn thể, công tác xã hội.
Một trong những truyền thống quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự gắn bó mật thiết, máu thịt với nhân dân. Đảng viên phải giữ vững và phát huy truyền thống đó, trước hết thể hiện sự gắn bó với quần chúng ở nơi làm việc và nơi cư trú của mình. Phải hòa mình với quần chúng, tin tưởng, am hiểu và lắng nghe ý kiến của quần chúng. Chăm lo lợi ích, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vận động nhân dân thực hiện đường lối và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Một đảng viên là được nhân dân yêu mến và tin cậy và sinh hoạt trong một tổ chức thì người đảng viên đó phải là người gắn bó với tập tập thể, với nhân dân, với đồng nghiệp, bạn bè trong đơn vị công tác, với bà con làng xóm, khu phố; tôn trọng, chia sẻ, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau. Hòa mình với quần chúng nhưng không bị động theo những suy nghĩ và việc làm tiêu cực, sai trái, mà luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, vận động mọi người đoàn kết, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ do Đảng đề ra.
Chỉ có hoạt động trong một tập thể thì một người mới có điều kiện để tham gia các hoạt động nên một người phấn đấu vào Đảng phải nhiệt tình tham gia sinh hoạt đoàn thể mà bản thân là thành viên, góp phần phát huy vai trò của đoàn thể trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Qua hoạt động đoàn thể mới thể hiện được vai trò, khả năng lãnh đạo, tập hợp quần chúng phát huy tính tiên phong, gương mẫu là những phẩm chất cần thiết để trở thành đảng viên của Đảng. Trong tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, người trong độ tuổi thanh niên muốn vào Đảng nhất thiết phải là đoàn viên ưu tú.
Người muốn vào Đảng phải chú trọng mở rộng quan hệ xã hội và tích cực tham gia công tác xã hội, gương mẫu và vận động gia đình, người thân tham gia các phong trào, các hoạt động đoàn thể, các hoạt động nhân đạo, từ thiện, phát huy truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc; chống tệ nạn xã hội, quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.
Năm là, tích cực tham gia xây dựng Đảng cơ sở.
Để được đứng trong hành ngũ của Đảng, người phấn đấu vào Đảng phải tích cực tham gia xây dựng Đảng. Nhân dân ta gắn bó với Đảng và luôn tham gia đóng góp cho Đảng. Vì vậy, tham gia xây dựng tổ chức đảng cơ sở trong sạch, vững mạnh là trách nhiệm của người phấn đấu vào Đảng.
Nội dung của xây dựng Đảng cơ sở của người phấn đấu vào Đảng là: Bằng sự hiểu biết và kinh nghiệm thực tế của mình quan tâm đóng góp ý kiến với chi bộ trong việc lãnh đạo cơ quan, đơn vị chấp hành tốt đường lối, của Đảng, pháp luật chính sách của Nhà nước; phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống nhân dân và động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước.
Tham gia xây dựng Đảng cơ sở bao gồm các nội dung sau:
Thứ nhất là, tích cực hưởng ứng các phong trào, các hoạt động triển khai thực hiện chủ trương, nhiệm vụ do đảng bộ, chi bộ đề ra với tinh thần chủ động, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu cao nhất. góp phần tích cực đưa những chủ trương , nhiệm vụ đó vào cuộc sống, tạo ra bước phát triển mới của cơ sở, đơn vị, nhất là về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của người lao động, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy lùi những biểu hiện tiêu cực.
Thứ hai là, chủ động nắm bắt tình hình thực tế, nắm bắt tình hình tư tưởng quần chúng nhân dân, kết quả thực hiện chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng, kịp thời phản ánh, đề xuất với tổ chức đảng.
Thứ ba là, tích cực và mạnh dạn tham gia góp ý kiến đối với sự lãnh đạo của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên
Thứ tư là, tham gia ý kiến khi được hỏi về việc giới thiệu những đảng viên ưu tú, đủ tiêu chuẩn để tổ chức đảng xem xét, bầu vào cấp ủy; giới thiệu những quần chúng ưu tú có đủ điều kiện để tổ chức đảng xét kết nạp.
Thứ năm là,  tham gia góp ý kiến với hoạt động của chính quyền và đoàn thể, góp phần xây dựng cơ sở chính trị trong sạch, vũng mạnh
Thứ sáu là, tích cực và kiên quyết đấu tranh bảo vệ Đảng, giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở cơ sở, đơn vị. Góp phần làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn phá hoại của các phần tử xấu, các thế lực thù địch lợi dụng dân chủ dể xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, vu cáo, bôi nhọ những cán bộ, đảng viên, tích cực, trung thực; kích động, chia rẽ đoàn kết, gây rối nội bộ.
Liên hệ bản thân:
Trong thời kỳ phát triển kinh tế xã hội của đất nước, mỗi người chúng ta phải nhận thức được mình phải làm gì cho đất nước phát triển. Mỗi người dù là học sinh, sinh viên, cán bộ công nhân viên chức, người nông dân hay công nhân phải tích cực hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong một nhóm, một tập thể, một tổ chức mà mình là thành viên. Đối với sinh viên thì việc học tập và nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ tiên quyết cho sự phát triển của mình. Nhưng bên cạnh nhiệm vụ học tập và nghiên cứu khoa học là những hoạt động khác giúp sinh viên có được những kỹ năng cơ bản tạo tiền đề cho những bước đường sau này. Đó thực sự là những kỹ năng cần thiết cho mỗi sinh viên khi còn là thành viên của môi trường đại học. Được học tập và rèn luyện trong môi trường đại học, mỗi sinh viên chúng ta cần tự hòa rằng chúng ta có đủ những điều kiện để phát triển bản thân cả về trí tuệ, hiểu biết, kinh nghiệm, kỹ năng… Vì vậy mỗi chúng ta phải xác định cho mình những mục tiêu để phấn đâu đạt được trong từng giai đoạn cụ thể, phát huy hết tinh thần, sức lực và trí tuệ phấn đấu đạt được mục tiêu đề ra.
Là một sinh viên năm tư ngành xã hội học, bản thân tôi hiểu rằng phải ra sức phấn đấu học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, tích cực tham gia các hoạt động do lớp, khoa tổ chức, nâng cao năng lực và dần hình thành cho mình những kỹ năng để phát triển bản thân. Trong bốn năm được học tập và rèn luyện trên mái trường Đại học Đà Lạt bản thân tôi nghiêm chỉnh chấp hành tốt những nội quy, quy định của Nhà trường đề ra. Bản thân cũng có nhiều hoạt động cùng các bạn trong lớp nhằm hưởng ứng phong trào do Ban Chấp hành Đoàn Khoa Xã hội học và Công tác xã hội tổ chức. Đó là những phong trào thể dục thể thể thao, văn hóa văn nghệ do Đoàn Khoa phát động.
Trong năm thứ ba và năm thứ tư, theo chương trình đào tạo của Nhà trường đối với sinh viên ngành Xã hội học thì có một học phần mà tôi cho rằng nó là một cơ hội thực tế để mỗi sinh viên có thể vừa ứng dụng những gì học được từ Nhà trường vào thực tiễn, vừa là dịp để chúng tôi thiết lập được mối quan hệ , phát triển kỹ năng của mình hơn. Bản thân tôi trong dịp thực tập này cũng thấy mình năng nổ trong công tác, phát huy tinh thần đoàn kết, nâng cao hơn nữa mối quan hệ với mọi người, hiểu các bạn và lắng nghe những chia sẻ của các bạn với một trách nhiệm là một Phó đoàn thực tập số 3. Chính với trách nhiệm trong hai đợt thực tập này, bản thân tôi thấy mình có được những kinh nghiệm quý báu giống như một dịp để trải nghiệm và đã làm tốt được những nhiệm vụ được giao. Kết thúc hai đợt thực tập tôi cũng để lại nhiều ấn tượng cho mọi người.
Cùng học tập, cùng làm việc và tham gia các hoạt động trong tập thể lớp, tập thể Khoa, bản thân tôi luôn hiểu rằng để có được một môi trường học tập tốt thì phải phát huy tinh thần đoàn kết, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên; ham học hỏi, phát huy tinh thần chủ động trong học tập và nghiên cứu; chủ động, tích cực trong các phong trào của lớp, của Khoa; tham gia các hoạt động xã hội để thiết lập cho mình những mối quan hệ; tiếp cận người dân, tìm hiểu và lắng nghe tâm tư nguyện vọng của người dân nơi mình cư trú; tích cực rèn luyện đạo đức, nâng cao lý luận, chủ động sáng tạo trong mọi tình huống.
Tuy là sinh viên, nhưng tôi thường xuyên nghiên cứu tìm hiểu về Đảng, về các chính sách của Đảng và Nhà nước để tích lũy cho mình những kiến thức cần thiết về Đảng, Nhà nước; tìm hiểu về Đảng và Nhà nước giúp bản thân vừa phục vụ cho môn học vừa nâng cao khả năng lý luận để phấn đấu trở thành một đảng viên; nắm vững đường lối cách mạng của Đảng, lý luận về con đường đưa đất nước đi lên của Đảng ta v.v... Từ đó xác định được bản thân cần phấn đấu như thế nào để trở thành một đảng viên. Đưa ra mục tiêu phấn đấu và ra sức phấn đâu đạt được mục tiêu:
Mục tiêu trước mắt của bản thân là phải phấn đấu học tập tốt và thường xuyên tu dưỡng đạo đức. Muốn làm được điều này thì trước hết phải nhìn lại những công việc mình đã làm, thường xuyên phê bình và tự phê bình bản thân, đưa ra những công việc cụ thể phải làm trong những giai đoạn cụ thể và trên hết đó là việc học tập. Tuy nhiên bản thân mỗi người tự mình đặt ra kế hoạch là phù hợp nhưng kế hoạch đó phải tính đến tính nhóm, tính tập thể tức là kế hoạch trong công việc của mình có sự hợp tác của nhiều người nhưng không làm tổn hại đến lợi ích của một người nào. Điều này chứng tỏ cá nhân phải đặt mình trong một nhóm, một tập thể nên phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để mỗi người trong nhóm, trong tập thể đều quý mến.
Mục tiêu thứ hai mà bản thân cần phải tham gia nhiều các hoạt động hơn nữa. Hoạt động đoàn thể và các hoạt động xã hội giúp chúng ta phát triển kỹ năng vì thế bản thân tôi luôn tự mình đặt ra kế hoạch để tham gia các hoạt động cùng lớp, cùng Đoàn.
Câu 4: Vấn đề mà Anh, Chị tâm đắc nhất khi tham gia lớp bồi dưỡng kết nạp Đảng; Anh, Chị có những kiến nghị, đề xuất gì cho công tác tổ chức, truyền đạt nội dung, v.v... với Ban tổ chức lớp học nhằm rút kinh nghiệm tổ chức tốt hơn các lớp bồi dưỡng kết nạp Đảng cho sinh viên sau này?
Tham gia lớp “Bồi dưỡng kết nạp Đảng” do Đảng bộ Trường Đại học Đà Lạt tổ chức, bản thân tôi cảm thấy một niềm vinh dự và tự hào. Được học tập từ những bài giảng của các thầy, tôi thấy mình đã tích lũy được nhiều kiến thức, kinh nghiệm. Được tiếp xúc và học tập cùng các bạn học viên ưu tú được tuyển chọn từ các Chi đoàn, tôi cũng đã học hỏi được từ các bạn rất nhiều. Kiến thức mà tôi học được từ các thầy là kiến thức cụ thể và thực tế nhất về Cương lĩnh của Đảng, về lịch sử Đảng ta, về Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, về nội dung, những vấn để thực tiễn của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”  và làm thế nào để phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Những thứ mà tôi học hỏi được từ các bạn học viên đó là sự chia sẻ tình cảm, cảm xúc với nhau, tinh thần đoàn kết, nhiệt tình, sáng tạo.
Trải qua bốn ngày học tập liên tục, mọi người dường như ai cũng mệt mỏi nhưng điểm trên nét mặt của mọi người vẫn là niềm tự hào, tinh thần ham học hỏi của sinh viên. Những câu hỏi của các bạn sinh viên về làm thế nào để trở thành đảng viên trong môi trường đại học đã thu hút được nhiều những sự chú ý của các bạn học viên. Trao đổi thẳng thắn với các học viên, Thầy Nguyễn Duy Mậu cũng đã giải đáp thỏa đáng những câu hỏi mà các bạn đưa ra. Nhiều những câu hỏi để lại những nụ cười, niềm tin và sự háo hức được giải đáp để mỗi học viên có thể biết được và phấn đấu thực hiện. Đối với học viên tham gia học tập tại lớp “Bồi dưỡng kết nạp Đảng” ai cũng hiểu rằng mình là một sinh viên ưu tú của lớp được cử đi tham gia lớp học thì mình phải phấn đấu học tập thật tốt để không phụ lòng tin cậy của tập thể lớp. Vì thế trên khuôn mặt của các bạn luôn rạng ngời vẻ phấn khởi và hăng say học tập. Lớp học hơn hai trăm học viên nhưng rất trật tự, chỉ nghe những lời giảng của Thầy, đó thực sự là một không gian để lại cho chúng ta nhiều kỷ niệm. Mỗi người tham gia lớp học đều có những cảm xúc khác nhau thật khó tả. Một cảm xúc mà để lại trong lòng mỗi người nói riêng và cả lớp nói chung một sự lưu luyến và tiếc thương vô hạn là khi chúng ta được xem một thước phim về “Lễ quốc tang Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Một số học viên đã khóc, tôi cũng dưng dưng nước mắt, cả phòng học như chìm vào trong một cảm xúc tiếc thương vô hạn đối với Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Người đã ra đi nhưng tinh thần, ý chí, và những bài học của Người dạy vẫn còn nguyên giá trị vĩnh hằng. Để tỏ lòng thành kính về công ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi học viên chúng ta cần quyết tâm thực hiện những lời thề như trong Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam do Bác Lê Duẩn đọc khi Bác Hồ rời xa chúng ta:
“Vĩnh biệt Người, chúng ta thề:
Đem hết sức mình tiếp tục thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa cao đẹp mà Người đã vạch ra cho giai cấp công nhân và nhân dân ta, đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho đồng bào.
Vĩnh biệt Người, chúng ta thề:
Hết lòng hết sức giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con người của mắt mình, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, làm hạt nhân cho khối đoàn kết toàn dân, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam hoàn toàn thắng lợi.
Vĩnh biệt Người, chúng ta thề:
Luôn luôn phát huy tình cảm quốc tế trong sáng của HỒ CHỦ TỊCH, hết lòng góp sức vào việc khôi phục và tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong phe xã hội chủ nghĩa và giữa các Đảng anh em trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản; thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc Đông Dương; ra sức ủng hộ phong trào cách mạng của nhân dân các nước, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Vĩnh biệt Người, chúng ta thề:
Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Người, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, rèn luyện mình thành những chiến sĩ trung thành với Đảng, với dân, xứng đáng là đồng chí, là học trò của HỒ CHỦ TỊCH. Noi gương Người, toàn thể nhân dân ta, thanh niên ta nguyện ra sức trau dồi mình thành những con người mới, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội mới, mang lá cà bách chiến bách thắng của HỒ CHỦ TỊCH tới đích cuối cùng”.
Trên đây thực sự là những giây phút mà tôi tâm đắc nhất. Chính những giây phút này đã để lại trong tôi rất nhiều cảm xúc đặc biệt là cảm xúc về “Lễ quốc tang Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Một thước phim để lại giá trị lịch sử sâu sắc nhất đối với từng người Việt Nam từ già đến trẻ, từ học sinh sinh viên đến các cán bộ công nhân viên chức.
Những kiến nghị và đề xuất:
Trước hết cho phép em xin chân thành cám ơn Đảng bộ Trường Đại học Đà Lạt đã tổ chức cho chúng em tham gia học tập và mở rộng kiến thức hơn nữa về Đảng Cộng sản Việt Nam qua lớp học này. Trong quá trình học tập chúng em đã được sự giảng dạy tận tình của các Thầy điều đó thực sự là một yếu tố quan trọng để lớp học được diễn ra thành công. Tuy nhiên, thời gian tổ chức lớp học cũng là lúc mà chúng em đang bước vào mùa thi kết thúc học kỳ. Vì vậy chúng em cũng gặp một chút những khó khăn trong việc học tập và làm bài thu hoạch nên em cũng có ý kiến về việc tổ chức lớp học có phù hợp hơn để chúng em có thể sắp xếp việc học, việc thi.
Câu 5: Đồng chí cho biết nội dung và ý nghĩa của việc học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong quá trình phấn đấu của đồng chí để trở thành Đảng viên.
Tư tưởng Hồ Chí mình là một trong những chỉ tiêu và yếu tố quan trọng để hình thành nên nhân cách và phẩm chất đạo đức của một người Đảng viên ưu tú không chỉ trong thời kì kháng chiến mà còn trong thời xây dựng Xã hội chủ nghĩa. Đối với một sinh viên đang trong quá trình phấn đấu để trở thành một phần của Đảng cộng sản thì tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh mang tính định hướng và kim chỉ Nam để hoàn thiện nhân cách, trau dồi bản thân trong đó bao gồm:
1. Thực hiện chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh “Trung với nước, hiếu với dân” cần quán triệt những nội dung của chủ nghĩa yêu nước trong giai đoạn mới; phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.
Tư tưởng và phẩm chất đạo đức tiêu biểu của Hồ Chí Minh là tinh thần yêu nước nồng nàn, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, toàn tâm, toàn ý cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ quyết tâm “ dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết giành cho được tự do, độc lập”, để rồi phấn đấu cho “ đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, để nước ta “ sánh vai với cường quốc năm châu”. Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh chúng ta cần:
– Bản thân cần nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn những hy sinh to lớn của các thế hệ đi trước đã không quản tính mạng hi sinh vì non sông, Tổ quốc Việt Nam độc lập, tự do, thống nhất trọn vẹn hôm nay. Nâng cao tinh thần yêu nước, tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc là lương tâm và trách nhiệm của mỗi người Việt Nam chân chính. Trung với nước ngày nay là trung thành vô hạn với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nền văn hóa, bảo vệ Đảng, chế độ, nhân dân và sự nghiệp đổi mới, bảo vệ lợi ích của đất nước. Với công sức và vị trí của mình, hoàn thàn tốt trách nhiệm được giao phó, xây dự giữ vững .
– Trung với nước, hiếu với dân ngày nay là luôn luôn tôn trọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân dưới cả ba hình thức: làm chủ đại diện, làm chủ trực tiếp và tự quản cộng đồng; hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, giải quyết kịp thời những yêu cầu, kiến nghị hợp tình, hợp lý của dân; khắc phục cho được thói vô cảm, lãnh đạm, thờ ơ trước những khó khăn, bức xúc… của nhân dân.
– Trung với nước, hiếu với dân ngày nay thể hiện ở ý chí vươn lên quyết tâm vượt qua nghèo nàn, lạc hậu, góp phần dựng xây đất nước phồn vinh, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, theo kịp trình độ các nước phát triển trong khu vực và thế giới; thực hiện bằng được mong ước của Bác Hồ kính yêu: “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.
– Trung với nước, hiếu với dân là phải luôn luôn có ý thức giữ gìn đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết trong Đảng, trong cơ quan, đơn vị; kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng trước mọi mưu đồ của các thế lực thù địch, cơ hội hòng chia rẽ dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, chia rẽ Đảng với nhân dân. Đoàn kết là yêu nước, chia rẽ là làm hại cho đất nước. Mọi biểu hiện cục bộ, bản vị là trái với tinh thần yêu nước chân chính.
– Trung với nước hiếu với dân là phải có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc, có lương tâm nghề nghiệp trong sáng; quyết tâm phấn đấu để thành đạt và cống hiến nhiều nhất cho đất nước, cho dân tộc; quyết tâm xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh. Phải có tinh thần ham học hỏi, phát huy truyền thống hiếu học và quý trọng nhân tài của ông cha ta; biết vận dụng sáng tạo các tri thức khoa học, công nghệ hiện đại, các sáng kiến trong sản xuất, công tác, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Mọi sự bảo thủ, trì trệ, lười học tập, ngại lao động, đòi hỏi hưởng thụ vượt quá khả năng và kết quả cống hiến là trái truyền thống đạo lý dân tộc và trái với tư tưởng yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
– Trung với nước, hiếu với dân yêu cầu mỗi chúng ta phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ cá nhân – gia đình – tập thể – xã hội; quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi. Theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, yêu nước là sẵn sàng phấn đấu hy sinh cho lợi ích chung, việc gì có lợi cho dân, cho nước, cho tập thể thì quyết chí làm, việc gì có hại thì quyết không làm. Làm việc gì trước hết phải vì tập thể, vì đất nước, vì nhân dân, phải nêu cao trách nhiệm của người lãnh đạo, không tham lam, vụ lợi, vun vén cá nhân…
2. Thực hiện đúng lời dạy: “Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư” nêu cao phẩm giá con người Việt Nam trong thời kỳ mới
“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là chuẩn mực đạo đức truyền thống trong quan hệ “đối với mình”, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng và phát triển phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, trở thành chuẩn mực cơ bản của đạo đức cách mạng. Người là một tấm gương mẫu mực về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Học tập và làm theo tấm gương của Người, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong giai đoạn hiện nay là:
– Tích cực lao động, học tập, công tác với tinh thần lao động sáng tạo, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; biết quý trọng công sức lao động và tài sản của tập thể, của nhân dân; không xa hoa, lãng phí, không phô trương, hình thức; biết sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn của Nhà nước, của tập thể, của chính mình một cách có hiệu quả.
– Thực hiện chí công, vô tư là kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng. Đối với cán bộ lãnh đạo, đảng viên phải loại bỏ thói chạy theo danh vọng, địa vị, giành giật lợi ích cho mình, lạm dụng quyền hạn, chức vụ để chiếm đoạt của công, thu vén cho gia đình, cá nhân…, cục bộ, địa phương chủ nghĩa. Phải thẳng thắn, trung thực, bảo vệ chân lý, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ người tốt; chân thành, khiêm tốn; không chạy theo chủ nghĩa thành tích, không bao che, giấu giếm khuyết điểm…
– Thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư phải kiên quyết chống bệnh lười biếng, lối sống hưởng thụ, vị kỷ, nói không đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít, miệng nói lời cao đạo nhưng tư tưởng, tình cảm và việc làm thì mang nặng đầu óc cá nhân, tư lợi, việc gì có lợi cho mình thì “hăng hái”, tranh thủ kiếm lợi, việc gì không “kiếm chác” được cho riêng mình thì thờ ơ, lãnh đạm. Không làm dối, làm ẩu, bòn rút của công, ăn bớt vật tư, tiền của của Nhà nước và của nhân dân. Phải có thái độ rõ rệt lên án và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, loại trừ mọi biểu hiện vô liêm, bất chính ra khỏi đời sống xã hội.
3. Nâng cao ý thức dân chủ và kỷ luật, gắn bó với nhân dân, vì nhân dân phục vụ
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao dân chủ và kỷ luật và chính Người là một mẫu mực về tinh thần dân chủ, tôn trọng tập thể, tôn trọng quần chúng nhân dân, luôn luôn quan tâm đến mọi người, gắn bó với nhân dân. Người luôn luôn phê phán “óc lãnh tụ”, phê phán thói “quan cách mạng”, phê phán những biểu hiện quan liêu, coi thường quần chúng, coi thường tập thể, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, coi đó là những căn bệnh khác nhau của chủ nghĩa cá nhân.
– Học tập và làm theo Người, mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tổ chức, trong tập thể, phải tôn trọng nguyên tắc, pháp luật, kỷ cương. Mọi biểu hiện dân chủ hình thức, lợi dụng dân chủ để “kéo bè, kéo cánh”, để làm rối loạn kỷ cương, để cầu danh, trục lợi hoặc chuyên quyền, độc đoán, đứng trên tập thể, đứng trên quần chúng…, làm cho nhân dân bất bình, cần phải lên án và loại bỏ.
– Học tập đạo đức Hồ Chí Minh tất cả vì nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên, dù ở bất cứ cương vị nào phải gần dân, học dân, có trách nhiệm với dân. Phải trăn trở và thấy trách nhiệm của mình khi dân còn nghèo đói. Không chỉ sẻ chia và đồng cam, cộng khổ với nhân dân, mà còn phải biết tập hợp nhân dân, phát huy sức mạnh của dân, tổ chức, động viên, lãnh đạo nhân dân phấn đấu thoát khỏi đói nghèo. Nhân dân là người thầy nghiêm khắc và nhân ái, luôn luôn đòi hỏi cao ở cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng sẵn lòng giúp đỡ cán bộ, đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, phát huy ưu điểm, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm.
– Học tập đạo đức Hồ Chí Minh phải rất coi trọng tự phê bình và phê bình. Người dạy cán bộ, đảng viên và mọi người chúng ta: không sợ khuyết điểm, không sợ phê bình, mà chỉ sợ không nhận ra khuyết điểm, sai lầm và không có quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, sẽ dẫn đến khuyết điểm ngày càng to và hư hỏng. Tự phê bình phải được coi trọng, được đặt lên hàng đầu, theo tư tưởng Hồ Chí Minh “phải nghiêm khắc với chính mình”. Phê bình phải có mục đích là xây dựng tổ chức, xây dựng con người, xây dựng đời sống tình cảm và quan hệ đồng chí, quan hệ xã hội lành mạnh, trong sáng, có lý, có tình. Phải khắc phục bệnh chuộng hình thức, thích nghe lời khen, (thậm chí xu nịnh), tâng bốc nhau, không dám nói thẳng, nói thật để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Đồng thời, cần phê phán những biểu hiện xuất phát từ những động cơ cá nhân, vụ lợi mà “đấu đá”, nhân danh phê bình để đả kích, lôi kéo, chia rẽ, làm rối nội bộ.
4. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần phát huy chủ nghĩa yêu nước gắn chặt với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc trong điều kiện toàn cầu hóa, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tình đoàn kết quốc tế bắt nguồn từ tình yêu thương đối với con người, với nhân loại và đoàn kết toàn nhân loại vì mục tiêu giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Người là hiện thân của chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Nhờ đó mà nhân dân thế giới kính yêu Người, trao tặng Người danh hiệu nhà văn hóa kiệt xuất trên thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế. Từ chủ nghĩa quốc tế cao cả, Người đã xây dựng nên tình đoàn kết quốc tế rộng lớn của dân tộc ta với các dân tộc trên thế giới, góp phần quan trọng vào những thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta và phong trào cách mạng thế giới.
– Ngày nay, trong điều kiện toàn cầu hóa, việc mở rộng tình đoàn kết quốc tế, hợp tác cùng có lợi, chủ động, tích cực hội nhập là một nguồn lực quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước. Đoàn kết quốc tế trong sáng là thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa với tinh thần Việt Nam sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy với các quốc gia trên thế giới, phấn đấu vì độc lập, hòa bình, hợp tác và phát triển
– Đoàn kết quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tôn trọng độc lập, chủ quyền của các nước khác, mở rộng hợp tác cùng có lợi, phấn đấu vì hòa bình, phát triển, chống chiến tranh, đói nghèo, bất công, cường quyền, áp đặt trong quan hệ quốc tế. Khép lại những vấn đề của quá khứ, lịch sử, xoá bỏ mặc cảm, hận thù, nhìn về tương lai, xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc.
– Học tập và làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần nâng cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, kiên quyết đấu tranh chống tâm lý tự ty, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi; phê phán các biểu hiện vong bản, vọng ngoại, ảo tưởng trước chủ nghĩa tư bản.
Sự nghiệp đổi mới đất nước đã và đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với sự hình thành và phát triển những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam, đồng thời tạo ra những thuận lợi và những thử thách mới đối với mỗi chúng ta trong lĩnh vực đạo đức. Hơn lúc nào hết, hiện nay toàn Đảng, toàn dân ta phải quan tâm đầy đủ đến vấn đề đạo đức, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện những chuẩn mực đạo đức đúng đắn, tiến bộ; đẩy mạnh giáo dục, rèn luyện và tăng cường quản lý đạo đức trong Đảng và trong nhân dân. Kế thừa truyền thống đạo đức tốt đẹp của ông cha, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một trong những biện pháp quan trọng để khắc phục sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm lành mạnh nền đạo đức xã hội, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị, xã hội, tạo động lực cho sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững. Vấn đề cơ bản nhất khi thực hiện cuộc vận động là mỗi người chúng ta phải nhận thức đầy đủ vị trí của vấn đề đạo đức, thường xuyên tự giác, nỗ lực học tập, rèn luyện, tu dưỡng theo gương Bác Hồ vĩ đại.
Đặt vào trong thực tiễn của một sinh viên:
Tiếp tục phấn đấu học tập rèn luyện đạo đức củng cố phẩm chất cũng như hoàn thành tốt sứ mệnh sinh viên của mình để chuẩn bị vững chắc cả về lý luận tư tưởng đúng đắn và hành trang học thức đóng góp vào sự nghiệp, công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa đưa đất nước ta ra sánh với bốn bể năm châu, nâng cao đời sống văn hóa, vật chất cho dân tộc. Trong quá trình nỗ lực không ngừng đó phải tôn trọng, gắn kết hòa hợp với các đoàn thể, gia đình, con người xung quanh, cùng bác ái, cùng giúp đỡ và hiệp trợ những điều tốt, phải có ý chí và nhận thức được sau sắc sự hi sinh của các lớp thế hệ đi trước và hạnh phúc tự do, độc lập, chân chủ ta đang nắm trong tay, đồng thời vững vàng trước mọi lời dụ dỗ, mánh khóe của thế lực thù địch, lòng với Đảng phải “vững như kiềng ba chân” thì mới có thể học hỏi và thấm nhuần tư tưởng.
Sống phải tự tạo cho mình một tác phong và lối sống tốt, tích cực, luôn chủ động và có lòng tự trọng. Làm việc đúng theo kỉ cương phép nước, có tinh thần trách nhiệm với mỗi nhiệm vụ được đề ra, có ý thức trong việc “chí công vô tư” không được tư lợi, không được vụ lợi, sống hưởng thụ, sống thực dụng tạo nên sự trì trệ trong một tập thể. Luôn luôn phải có ý thức tự lập, tự giác, sống tiết kiệm tránh tình trạng làm cho có, ỷ lại vào người khác hoặc thoái thác, chống chế.
Làm việc và công tác hết mình cho chi bộ mình đang hoạt động, đúng phần việc, tôn trọng đoàn kết lẫn nhau, có trách nhiệm, không bao che nhưng không được gây ra các hoạt động chia rẽ hay tị nạnh. Phải rành mạch và có ý thức tự phê bình đồng thời chịu sửa lỗi thay vì nhận lỗi qua loa. Chăm chỉ tham gia các hoạt động xã hội góp phần xây dựng hình ảnh thanh niên mới, năng động trẻ trung và sẵn sàng vì dân vì nước. Ngoài ra phải có thái độ sống tốt với người xung quanh.
Đặt mình vào một môi trường quốc tế hóa như ngày hôm nay, những gì có thể phấn đấu là đưa hình ảnh một đất nước đang phát triển dù còn gặp nhiều thách thức như Việt Nam ra toàn bộ cộng đồng bàn bè quốc tế thông qua các chương trình tình nguyện kèm với tình nguyện viên nước ngoài, các cuộc hội thảo, giao lưu văn hóa. Làm nổi bật lên niềm tự hào và tình yêu quê hương đất nước của bản thân. Cởi mở, thân thiện hợp tác, đoàn kết nhưng biết bảo vệ chính kiến của bản thân. Thông qua những hoạt động thiết thực với sinh viên như trên, vẻ đẹp và cốt lõi của “tấm gương Đạo đức Hồ Chí Minh” sẽ được thể hiện phần nào.
Câu hỏi 6: Đồng chí hãy phân tích những truyền thống quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam? Những truyền thống đó đang được Đảng ta giữ gìn và phát huy ra sao ?.
Trả lời:
Để trả lời câu hỏi này tôi xin được phép đề cập đến một số điểm cơ bản sau:
Trước hết phải khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đó là sản phẩm sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam dưới ánh sáng của thời đại mới; Là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin; Phong trào công nhân và Phong trào yêu nước ở nước ta trong những năm 20 của thế kỷ XX. Đây là sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin về sự ra đời của Đảng Cộng sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến và có truyền thống yêu nước từ ngàn năm.
Ngay từ khi mới thành lập, Đảng đã thật sự là đội tiên phong lãnh đạo của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam. Sự kiện Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập chứng tỏ giai cấp vô sản Việt Nam đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng. Đảng cộng sản Việt Nam không những là đội tiên phong lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam mà còn là đại biểu chân chính cho lợi ích của toàn thể dân tộc Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam không chỉ mang bản chất giai cấp công nhân mà còn là lực lượng dẫn dắt phong trào dân tộc chân chính, một Đảng cách mạng vì nước vì dân.
Chặng đường vẻ vang hơn bảy thập kỷ qua của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định: Sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta đã đạt được những thành tựu kỳ diệu. Tuy nhiên, Đảng cũng còn có những yếu kém, có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm của mình nhưng đã đề ra những biện pháp sửa chữa đúng đắn, kịp thời. Đảng đã công khai tự phê bình, nhận khuyết điểm trước nhân dân, quyết tâm sửa chữa và sửa chữa có kết quả. Vì vậy, Đảng vẫn được nhân dân tin cậy, thừa nhận Đảng là đội tiên phong chính trị, người lãnh đạo chân chính duy nhất của cả dân tộc. ở nước ta, ngoài Đảng Cộng sản không lực lượng nào có thể lãnh đạo cách mạng.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng không ngừng tôi luyện và trưởng thành và đã xây dựng nên nhiều truyền thống quý báu, thể hiện bản chất tốt đẹp của Đảng ta. Trong những truyền thống đó nổi bật nhất là 6 truyền thống cơ bản sau:
Thứ nhất là; Bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng cách mạng.
Hai là; Nêu cao tinh thần độc lập tự chủ và sáng tạo.
Ba là; Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Bốn là; Trung thành với lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc, phải gắn bó mật thiết với nhân dân.
Năm là; Kiên định nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng.
Sáu là; Giữ gìn đoàn kết nội bộ, đoàn kết quốc tế…
Để thấy rõ những điểm nổi bật của sáu truyền thống trên ta thấy rằng: Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập và rèn luyện đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, thắng lợi mà nhân dân, dân tộc ta đánh đổi bằng cả xương máu của các lớp thế hệ con Lạc cháu Hồng.
Đó là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà. Đây là kết quả tổng hợp của các phong trào cách mạng liên tục diễn ra trong 15 năm sau ngày thành lập Đảng, từ cao trào cách mạng 1930 – 1931. Đặc biệt là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939 đến phong trào giải phóng dân tộc 1939 – 1945. Như ba cuộc tổng diễn tập, với khí thế cách mạng vĩ đại của quần chúng, nắm chắc thời cơ lịch sử, với một nghệ thuật lãnh đạo và tổ chức khởi nghĩa tài tình, Đảng ta đã lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám thành công trọn vẹn, đã xoá bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở nước ta, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Đó là thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Đó là thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kế thừa những thành tựu và kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc khi còn chiến tranh và trong những năm đầu sau khi nước nhà thống nhất, trải qua nhiều tìm tòi khảo nghiệm sáng kiến của nhân dân, Đảng đã đề ra và lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với thực tiễn Việt Nam và bối cảnh quốc tế mới.
Với sự cố gắng của các tổ chức Đảng ở trong nước và của các đồng chí hoạt động ở nước ngoài Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ Nhất (3/1935) đề ra chủ trương đường lối và tổ chức hoạt động của Đảng. Đại hội đã đánh dấu sự khôi phục của tổ chức Đảng từ Trung ương đến đại phương, thống nhất phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Trung ương mới, đem lại niềm tin cho đảng viên và quần chúng.
Những năm 1936 – 1939, tình hình trong nước và thế giới có nhiều thay đổi, các Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng năm 1936, 1937 và 1939 đã có những quyết định kịp thời về chuyển hướng hình thức tổ chức và sử dụng những hình thức đấu tranh phù hợp, dấy lên cuộc vận động dân chủ rộng lớn – một hiện tượng hiếm có xảy ra ở một nước thuộc địa. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1/9/1939), thực dân Pháp tăng cường đàn áp phong trào cách mạng, phát xít Nhật đánh chiếm Việt Nam và Đông Dương, Nhật – Pháp câu kết thống trị dân tộc ta, loàm cho mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và phát xít Nhật phát triển gay gắt. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng (11/1939) đã nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (11/1940) tiếp tục chủ trương đó. Tháng 1/1941, sau gần 30 năm hoạt động ở nước ngoài lãnh tụ Nguyễn ái Quốc về nước cùng với Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc. Trong lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc, hoạt động bí mật không có điều kiện họp Đại hội đại biểu toàn quốc định kỳ, các Hội nghị Trung ương, Hội nghị Ban thường vụ Trung ương và Hội nghị cán bộ Đảng có vai trò quan trọng. Cụ thể hoá Nghị quyết Trung ương 5/1941. Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng 3/1945 và bản Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Trên cương vị là Người đứng đầu Đảng và Chính phủ, Hồ Chí Minh đã cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã chèo lái con thuyền cách mạng chiến thắng giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Sau tháng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 Đảng đã nắm chính quyền toàn quốc nhưng do hoàn cảnh lịch sử khó khăn, phức tạp Đảng phải rút vào bí mật để thực hiện sự lãnh đạo kín đáo và khôn khéo. Các Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã trực tiếp quyết định những vấn đề về chiến lược và sách lược của Đảng và Nhà nước cách mạng về xây dựng chế độ mới và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Hội nghị Ban thường vụ Trung ương Đảng 11/1945 với bản chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”; Hội nghị BCH TW Đảng mở rộng 3/1946 với chủ trương “Hoà để tiến”; Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng 12/1946 với bản chỉ thị “Toàn dân kháng chiến”.
Trong lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III đã có nhiều Hội nghị với những Nghị quyết quan trọng, cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc; Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Năm (1961) bàn về phát triển nông nghiệp. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy (1962) bàn về phương hướng, xây dựng và phát triển công nghiệp. Hội nghị lần thứ Tám (1963) bàn về phát triển kinh tế quốc dân. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Mười (1964) tập trung bàn về thương nghiệp và giá cả. Các Hội nghị Trung ương lần thứ mười chín (1971), lần thứ Hai mươi (1972) và lần thứ Hai mươi hai (1973) về phát triển kinh tế quốc dân ở miền Bắc.
Đối với sự nghiệp cách mạng miền Nam và chống Mĩ cứu nước, Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương đã giành nhiều Hội nghị với những nghị quyết quan trọng để lãnh đạo và chỉ đạo kịp thời. Hội nghị Bộ Chính trị (1/1961) ra Chỉ thị “Về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam”. Tháng 2/1962 Bộ Chính trị ra Nghị quyết “Về công tác cách mạng miền Nam”. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ chín (12/1963) bàn về “Phương hướng và nhiệm vụ cách mạng miền Nam và đường lối quốc tế của Đảng trong tình hình mới”. Các Hội nghị Trung ương lần thứ mười một (3/1965) và lần thứ mười hai (12/1965); Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (1967) về đẩy mạnh đấu tranh công tác ngoại giao. Chủ trương mở cuộc tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968 được đề ra tại Hội nghị Trung ương lần thứ 14; Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 18 (1970) với chủ trương “Đánh bại chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của đế quốc Mỹ”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 19 (1971) là “Kiên trì đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”. Sau khi ký Hiệp định Pari, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai vẫn ngoan cố tiếp tục chiến tranh, vi phạm Hiệp định. Trước tình hình đó Hội ghị Ban Chấp hành Trung ương đảng lần thứ 21 (1973) đã có Nghị quyết quan trọng khẳng định “Con đường cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực cách mạng”, phát triển lực lượng về mọi mặt để giành thắng lợi hoàn toàn. Những quyết định về phương án giải phóng miền Nam đã được Hội nghị Bộ Chính trị họp ngày 30/9 đến 8/10/1974 và từ 18/12/1974 đến 8/1/1975 thông qua trực tiếp đưa đến thắng lợi hoàn toàn của Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đất nước thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã họp tháng 12/1976 tại Hà Nội. Đại hội đã tổng kết thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam. Đại hội đề ra đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng phát triển kinh tế trên cả nước. Đại hội quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhân dân cả nước vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa phải tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Đó là khó khăn và cũng là thách thức mới. Các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra những chủ trương, biện pháp để kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Về xây dựng chủ nghĩa xã hội, các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương đã cụ thể hoá đường lối của Đại hội IV thực hiện công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, xác lập quan hệ sản xuất mới, đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội theo những chỉ tiêu chủ yếu mà Đại hội đã đề ra. Tình hình kinh tế, xã hội, đời sống của nhân dân có nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh và cũng do sự trì trệ, kém hiệu quả của cơ chế quản lý cũ… Từ trong khó khăn đó Đảng và nhân dân ta đã bắt đầu có những khảo nghiệm thực tế và tìm tòi cách thức, cơ chế quản lý mới. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ sáu khoá IV (9/1979) đã mở đầu cho quá trình tìm tòi, đổi mới chủ trương khuyến khích mọi lực lượng và năng lực sản xuất làm cho sản xuất bung ra làm ra nhiều của cải vật chất cho xã hội. Các Hội nghị Trung ương tiếp theo và những quyết dịnh của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã hướng vào sự tìm tòi, đổi mới cơ chế quản lý “Trong cuộc trường chinh để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, ở đâu và lúc nào cũng có Đảng. Đảng đi đầu trong chiến đấu. Đảng xông pha nơi khó khăn. Đảng gắn bó với nhân dân bằng những gì Đảng đã làm cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Trong giai đoạn mới, Đảng quyết làm tất cả vì phồn vinh của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân” (1)
Các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá V đã tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội hàng năm và dài hạn, công tác tư tưởng và tổ chức bảo đảm nhiệm vụ kinh tế, xã hội về phân cấp quản lý kinh tế, xây dựng và tăng cường cấp huyện, những vấn đề về phân phối lưu thông.
Trải qua mười năm lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam họp đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) đã nêu bật những thành tựu của 10 năm đổi mới về nhịp độ phát triển kinh tế, những chuyển biến tích cực về mặt xã hội; giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng an ninh; thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng về hệ thống chính trị và phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại. Đại hội đặc biệt nhấn mạnh nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội; đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá, đất nước chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Năm (7/1998) đã thông qua Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển nên văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, nêu rõ 5 quan điểm chỉ đạo. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ sáu (10/1998) thảo luận và quyết định những vấn đề kinh tế – xã hội để khắc phục những khó khăn yếu kém, vượt qua những thách thức do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, tiền tệ các nước trong khu vực. Hội nghị Trung ương sáu (lần 2) họp tháng 1-2/1999 đã thảo luận và ra Nghị quyết “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay” mở cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình nhân kỷ niệm 30 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng…
Có thể thấy rằng sự lãnh đạo của Đảng từ khi mới ra đời cho dù còn non trẻ qua các kỳ Đại hội nhưng vẫn giữ vững được những truyền thống quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam đó là giữ vững Cương lĩnh, đường lối đúng đắn, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng cách mạng; Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh suyên suốt cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, nhân dân ta. Tinh thần độc lập tự chủ, vận dụng sáng tạo và vấn đề đoàn kết, tạo sự thống nhất trong toàn Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức luôn được đặt lên hàng đầu điều đó được thể hiện qua các cuộc Hội nghị Ban chấp hành Trung ương; Thể hiện trên con đường phát triển của cách mạng Việt Nam, nhất là trong những bước ngoặt lịch sử phải đương đầu với mọi thử thách dù hiểm nghèo tưởng không thể vượt qua, Đảng đã kịp thời có những quyết sách sáng suốt đáp ứng yêu cầu phát triển của thực tiễn nhưng dưới sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng đã đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người viết: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân tộc. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như con ngươi của mắt mình”. Đảng ta không chỉ nắm bắt những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin mà còn biết vận dụng sáng tạo và phát triển trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đồng thời, Đảng ta không ngừng phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tiếp thu những tinh hoa trí tuệ của nhân loại. Và chính là kết quả của quá trình phấn đấu không mệt mỏi của các thế hệ đảng viên của Đảng. Những truyền thống đó có ý nghĩa dân tộc và quốc tế sâu sắc thể hiện tinh thần cách mạng triệt để, trình độ trí tuệ ngày càng được nâng cao của Đảng ta. Đây là kết quả tất yếu của sự chuẩn bị công phu, gian khổ với những bước đi phù hợp thể hiện năng lực tổ chức tài tình của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc; Là sự thắng thế của tư tưởng vô sản đối với đường lối chính trị của giai cấp tư sản.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt thời kỳ đơn độc, biệt lập của phong trào dân tộc Việt Nam. Từ đây gắn chặt phong trào cách mạng nước ta gắn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh thời đại và sức mạnh trong nước, kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân. “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đảng lãnh đạo cách mạng không phải là một đặc quyền, đặc lợi mà là sứ mệnh lịch sử, là trách nhiệm nặng nề, vẻ vang của Đảng với giai cấp, với dân tộc được nhân dân giao phó”(2). Cơ sở, nguồn gốc sức mạnh và truyền thống của Đảng là ở chỗ: Đảng đứng vững trên nền tảng tư tưởng tiên tiến của thời đại, đó là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta không chỉ nắm bắt những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin mà còn biết vận dụng sáng tạo và phát triển trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng không ngừng phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta mà còn tiếp thu những tinh hoa trí tuệ của nhân loại. Trong bài nói tại Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
“... Đảng ta vĩ đại như biển rộng núi cao,
Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình.
Đảng ta là đạo đức, là văn minh,
Là thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no.
Công ơn Đảng thật là to,
Ba mươi năm lịch sử Đảng là cả một pho lịch sử bằng vàng”.
Thật vậy, kể từ ngày thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân, cùng nhân dân mình viết nên những trang sử chói lọi, trong đó mỗi kỳ Đại hội Đảng, mỗi thời đoạn của cách mạng Việt Nam  là một dấu son không thể phai mờ trong lịch sử dân tộc./.
Câu 7: Đồng chí cần làm gì và phấn đấu như thế nào để trở thành đảng viên ? Vì sao vấn đề xây dựng động cơ vào Đảng đúng đắn được đặt lên hàng đầu và có ý nghĩa quyết định đối với một đảng viên ? Điều lệ Đảng quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền của đảng viên như thế nào ?.
Trả lời: Đối với mỗi cá nhân muốn trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam cần phải tự mình trả lời những câu hỏi: Tại sao ta vào Đảng ? Vào Đảng để làm gì ?, Mục tiêu lý tưởng của Đảng ta là gì ?.
Lúc sinh thời Bác Hồ đã dạy: “Vì sao chúng ta vào Đảng ? Phải chăng để thăng quan, phát tài ? Không phải !... Chúng ta vào Đảng là để hết lòng, hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng viên”. Cũng trong Di chúc của mình, Người viết “... Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân...”. Những người muốn vào Đảng phải xây dựng cho mình được động cơ đúng đắn bởi nó có ý nghĩa quyết định đối với việc phấn đấu trở thành đảng viên, nó sẽ là động lực lớn thúc đẩy mọi hành động, việc làm của chúng ta sau này. Để trở thành một đảng viên mỗi chúng ta cần thực hiện tốt những nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là, không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng. Bản lĩnh chính trị được thể hiện ở tính kiên định mục tiêu, lý tưởng đã lựa chọn trong bất kỳ tình huống khó khăn nào cũng không dao động, giảm sút niềm tin và ý chí chiến đấu, trung thành với lợi ích của Đảng, với lợi ích của nhân dân lao động và của dân tộc, suốt đời tận tâm trung thành phục vụ cho Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thấy sai phải biết phê phán... Trong bất kỳ tình huống khó khăn nào cũng không dao động giảm sút niềm tin và ý chí chiến đấu. Khí tiết của người cách mạng là “giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Đây chính là nét nổi bật của người đảng viên.
Hai là, Không ngừng nâng cao năng lực, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng. Là một người đảng viên chân chính, mẫu mực không chỉ hoàn thành nhiệm vụ mà phải gương mẫu hoàn thành tốt, đảm bảo chất lượng công việc cũng như đem lại hiệu quả cao. Để làm được điều đó đòi hỏi người đảng viên không chỉ nâng cao về năng lực mà còn cả năng lực về trí tuệ và năng lực thực tiễn, không ngừng học hỏi trau dồi để đủ kiến thức đáp ứng yêu cầu của cuộc sống.
Ba là, người đảng viên phải gắn bó với tập thể, với nhân dân, tích cực tham gia hoạt động đoàn thể cũng như các công tác xã hội. Điều đó được thể hiện ở ngay chính nơi ở, nơi làm việc cũng như các mối quan hệ với các quần chúng khác, biết lắng nghe, hiểu được tâm tư nguyện vọng của quần chúng, biết chăm lo đến lợi ích, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Vận động nhân dân sống và làm việc theo đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Những hoạt động chính là cơ hội tốt giúp cho chúng ta tiến bộ, trưởng thành về chính trị, tạo dựng sự tín nhiệm của nhân dân tạo đà cho mỗi quần chúng phấn đấu trở thành đảng viên.
Bốn là, tích cực tham gia xây dựng Đảng cơ sở. Để được đứng trong hàng ngũ của Đảng chúng ta không những tự giác thừa nhận, tôn trọng sự lãnh đạo của Đảng mà còn cần tích cực tham gia xây dựng Đảng, giúp Đảng phát hiện những quần chúng mất tư cách đạo đức, phát hiện những đảng viên tha hoá về đạo đức, lối sống, chống tham nhũng trong Đảng...
Năm là, mỗi người chúng ta không ngừng đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật, đi ngược với chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, vận động quần chúng nhân dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, tích cực góp phần xây dựng sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh...
Động cơ thôi thúc chúng ta phấn đấu vào Đảng là để đứng trong một tổ chức tự nguyện của những người cùng chung một chí hướng đấu tranh xây dựng một xã hội mới tốt đẹp dân giàu, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên CNXH. Mỗi người chúng ta nguyện phấn đấu vào Đảng chính là tự nguyện dấn thân theo lý tưởng cách mạng, chấp nhận hy sinh, không sợ khó, sợ khổ, quyết tâm theo đuổi đến cùng con đường dẫn đến mục tiêu CNXH. Mỗi đảng viên phải hiểu rõ cơ hội lớn của công cuộc đổi mới hiện nay, ra sức nắm bắt để vận dụng vào nhiệm vụ của mình; phải tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, chống lại sự phá hoại của kẻ thù. Thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng, bảo đảm toàn thể thống nhất trong nội bộ làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, tích cực làm công tác phát triển đảng viên mới.
Cái được lớn nhất khi vào Đảng là có cơ hội được phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân trong cuộc đấu tranh cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.
Động cơ vào Đảng đúng đắn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết quyết định. Bởi, chỉ có động cơ đúng đắn mới có thể đáp ứng được những yêu cầu của Đảng và Đảng cũng chỉ kết nạp những người giác ngộ về mục đích, lý tưởng cách mạng, quyết không thu nhận vào hàng ngũ mình những người có động cơ thiếu trong sáng, lệch lạc, càng không để cho các phần tử cơ hội lọt vào Đảng. Để có động cơ vào Đảng đúng đắn chúng ta ta cần hiểu sâu sắc bản chất, mục đích của Đảng bằng chính việc làm hàng ngày của mình, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ do Đảng đề ra, thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng, đấu tranh khắc phục mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, kiêu căng, thực dụng, vụ lợi, xa lạ với bản chất của người chiến sĩ cách mạng. Lúc sinh thời Bác Hồ đã căn dặn “... Nếu không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào Đảng. Bởi Đảng là tổ chức cách mạng có sứ mệnh cao cả đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh cho độc lập và chủ nghĩa xã hội chứ không phải là nơi để tìm kiếm danh vọng, địa vị, thu hái lợi lộc...”. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội chính là niềm tin, lẽ sống, là động lực tinh thần to lớn của mỗi chúng ta.
Tại Điều 1 Điều lệ Đảng quy định tiêu chuẩn của đảng viên như sau:
1. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, không bóc lột, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng.
2. Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên thừa nhận và tự nguyện: thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng.
Tại Điều 2 Điều lệ Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam quy định nhiệm vụ của đảng viên:
1. Tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phục từng tuyệt đối sự phân công và điều động của Đảng.
2. Không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ kiến thức, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác.
3. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân; tích cực tham gia công tác quần chúng, công tác xã hội nơi làm việc và nơi ở; tuyên truyền vận động gia đình và nhân dân thựuc hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
4. Tham gia xây dựng bảo vệ đường lối, chính sách và tổ chức của Đảng; phục từng kỷ luật, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyện tự phê bình và phê bình, trung thực với Đảng; làm công tác phát triển đảng viên; sinh hoạt đảng và đóng đảng phí đúng quy định.
Tại Điều 3 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định quyền của đảng viên như sau:
1. Được thông tin và thảo luận các vấn đề về Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; biểu quyết công việc của Đảng.
2. ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.
3. Phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời.
4. Trình bày ý kiến khi tổ chức đảng nhận xét, quyết định công tác hoặc thi hành kỷ luật đối với mình.
Đảng viên dự bị có các quyền trên đây, trừ quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo của Đảng.
Qua quá trình nghiên cứu và học tập về Đảng tôi nhận thấy rằng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi. Trong thời đại ngày nay, với mục tiêu và lý tưởng cao đẹp mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn và xây dựng. Tôi tha thiết và mong muốn được đứng trong hàng ngũ của Đảng để góp sức nhỏ bé của mình cho sự nghiệp chung của dân tộc và xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu của thời đại mới. Tuyệt đối trung thành với Đảng, với lý tưởng cách mạng, nguyện đi theo con đường mà Đảng, Bác cùng toàn thể nhân dân đã lựa chọn. Mong rằng, Chi uỷ, Đảng uỷ giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi được đứng trong hàng ngũ của Đảng./.
Câu 8: Đồng chí hãy trình bày 5 bài học lớn của cách mạng Việt nam được nêu trong Cương lĩnh năm 1991. Phân tích bài học mà đồng chí thấy tâm đắc nhất. Ý nghĩa của bài học này đối với công việc của đồng chí ?
         Trải dài theo dòng lịch sử của nước nhà chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy một điều rằng cách mạng Việt Nam đã đi hết từ thắng lợi này cho tới thắng lợi khác, dưới sư lãnh đạo của Đảng, có cương lĩnh, có đường lối soi sáng chỉ đường, tạo ra những trận đánh lịch sử lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, tạo ra cuộc sống bình yên, ấm no và hạnh phúc cho toàn thể dân tộc ta và được trường tồn tới ngày nay và mãi mãi
Nước đã đang bước vào giai đoạn hồi nhập nhập toàn cầu, cuộc sống ngày càng phát triển mạnh mẽ, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày càng lên cao, trước những xu thế mới đỏi hỏi Đảng ta phải có được cương lĩnh rõ ràng để chỉ lối cho những bến bờ hành phúc cho nhân dân, cho nhân loại, và cương lĩnh năm 1991 đã cho chúng ta thấy rõ được những yêu cầu mang tính cần thiết mà chúng ta phải thực hiện được để tô thêm những trang sử vàng cho sự thành công trong con đường hội nhập của đất nước.
         Vậy 5 bài học lớn của cách mạng Việt Nam được nêu trong cương lĩnh 1991 được thể hiện như thế nào? chúng ta cũng nhau đi tìm hiểu:
          Tổng kết thực tiễn hơn 60 năm của nước ta, trong đó có 5 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra, từ những kinh nghiệm thành công và cả những kinh nghiệm chưa thành công, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã nêu ra được 5 bài học lớn của cách mạng Việt Nam:
      Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Đây là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Hai vấn đề này có quan hệ hữu cơ với nhau. Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra sức mạnh to lớn của dân tộc trong đấu tranh cách mạng, giành thắng lợi.
     Hai là, Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Để phát huy, nhân lên sức mạnh vĩ đại của nhân dân, sự lãnh đạo và tòan bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân, đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân. 
      Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đòan kết, đòan kết toàn Đảng, đòan kết tòan dân, đòan kết dân tộc, đòan kết quốc tế.Đoàn kết là truyền thống quý báu và là bài học lịch sử lớn, lâu dài của dân tộc ta đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng thành công, tạo nên nguồn sức mạnh to lớn để giành thắng lợi.
     Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Sức mạnh dân tộc, sức mạnh trong nước là sức mạnh tổng hợp của nhiều nguồn lực. Sức mạnh thời đại, sức mạnh quốc tế trước hết là sức mạnh của quy luật và xu thế phát triển không thể đảo ngược của lịch sử nhân loại.
     Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định hàng đầu bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta. Để làm được điều đó, phải xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tế, đủ sức giải quyết các vấn đề do cuộc sống đặt ra. 
     Thực chất thì bản thân tôi hoàn toàn tâm đắc tất cả các bài học ở trên, trong tôi qua mỗi bài học tự rút ra được cho mình những bài học quý báu, những kiến thức cẩn và đủ để có thể trở thành một đàng viên tốt, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, và đóng góp vào sự phát triển chung của Đảng, Nhà nước.
Từ cái nhìn khách quan và cụ thể nhất tôi cũng đưa ra được cho mình Bài học tâm đắc nhất đó là ở bài học lớn thứ hai :
Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”
     Có thể khẳng định một điều rằng:   Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Để phát huy, nhân lên sức mạnh vĩ đại của nhân dân, sự lãnh đạo và tòan bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân, đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân
     Tám mươi mốt năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, dân tộc ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, lập nên những kỳ tích vĩ đại trong cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng, phát triển đất nước, định hướng xã hội chủ nghĩa. 
      Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đưa nhân dân thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than, giành độc lập cho đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. 
      Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã bảo vệ và  phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám 1945, giải phóng miền Bắc, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta, đưa cách mạng nước ta bước sang giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục tiến hành cách mạng giải phóng ở miền Nam. 
     Trải qua 21 năm chiến đấu, nhân dân ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị kéo dài hơn một thế kỉ của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta, hoàn thành về cơ bản cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước, non sông thu về một mối. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi vĩ đại nhất trong sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, đánh dấu bước ngoặt quyết định cho dân tộc Việt Nam tiến vào kỉ nguyên mới- kỉ nguyên độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội. 
      Sau 30 năm chiến tranh giải phóng, cả nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là  một cuộc chiến đấu “khổng lồ” để loại bỏ những gì cũ kỹ lạc hậu, tạo ra những giá trị “mới mẻ, tốt tươi” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh. 
      Trong buổi đầu cả nước xây dựng chủ nghĩa xã  hội cũng như trong thời kỳ đổi mới, dân tộc ta phải đối diện với bao thách thức, khó khăn gay gắt cả trong nước và quốc tế. Đặc biệt vào thập kỉ 90 của thế kỉ XX, trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp và tình hình đất nước gặp muôn vàn khó khăn, các thế lực thù địch không ngừng chống phá, nhưng với bản lĩnh kiên cường của một chính đảng cách mạng và khoa học, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên định mục tiêu mà Đảng, nhân dân đã lựa chọn, giữ vững vai trò lãnh đạo, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua sóng gió, tiếp tục tiến lên, tiến hành công cuộc đổi mới đạt nhiều thành tựu quan trọng. Đảng đã đề ra và từng bước bổ sung, hoàn thiện đường lối cách mạng một cách đúng đắn, sáng tạo, bước đầu hình thành một hệ thống các quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới, khai phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tế nước ta, kế thừa và phát huy giá trị văn hoá và bản sắc dân tộc. Đây là kết quả của một quá trình trăn trở, tìm tòi, tổng kết, đổi mới tư duy lí luận, nhận thức đúng đắn hơn về thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đảng ngày càng trưởng thành và có thêm kinh nghiệm lãnh đạo nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trong hoàn cảnh mới. 
      Xuyên suốt chặng đường hoạt động cách mạng 80 năm qua, trong các Cương lĩnh (từ Cương lĩnh đầu tiên năm 1930 đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, năm 1991), hay trong mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đều thể hiện rất rõ, Đảng ta không có mục đích nào khác là đấu tranh cho tự do độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Quần chúng nhân dân là người làm nên lịch sử. “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ đưa đến những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước”. 
      Sáu  đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng cũng như những phương hướng cơ bản trong quá trình xây dựng chủ  nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc mà  Cương lĩnh 1991 của Đảng xác định đều toát lên vị trí, vai trò của nhân dân; đều nhằm giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, hướng tới xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, mỗi cá nhân đều có điều kiện phát triển toàn diện; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân
      Triển khai đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách bảo đảm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; quyền dân chủ chính trị của nhân dân được khơi dậy, tôn trọng và ngày càng đề cao. Chính sách xã hội thời kỳ đổi mới hướng vào phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội. Đặc biệt, đã tạo được những thành tựu lớn trong thực hiện chiến lược quốc gia xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm, được thế giới ghi nhận và đánh giá cao. Đồng thời, đã kết hợp tốt các nguồn lực của Nhà nước và nhân dân, xây dựng nhiều công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, văn hóa, xã hội cho các vùng, miền. Chính trị- xã hội ổn định; quốc phòng an ninh được tăng cường, quan hệ đối ngoại có những bước phát triển mới, đã tạo thêm môi trường thuận lợi để Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo tổ chức thực hiện tốt hơn các chương trình, mục tiêu phát triển đất nước. 
      Qua gần 25 năm đổi mới, đất nước đã vượt qua thử  thách hiểm nghèo, phá thế bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, mở rộng quan hệ quốc tế, tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 
      Tất cả thực tiễn phong phú, sôi động, hào hùng của dân tộc ta trong 80 năm qua ngày càng khẳng định rõ  hơn nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Đảng vừa tròn 30 tuổi: 
"Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao
Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình.
Đảng ta là đạo đức, là văn minh,
Là  thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no”
      Đảng ta thật là vĩ đại là bởi vì ”ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc Đảng ta không có lợi ích gì khác"
      Đảng ta vĩ đại, trước hết chính vì Đảng tiêu biểu cho sức mạnh trí tuệ của giai cấp công nhân hiện đại, cho tiềm lực tinh thần truyền thống của dân tộc và tiếp thu được những tinh hoa của văn hoá nhân loại. Ngay từ khi thành lập, sức mạnh của Đảng nằm ngay trong ba yếu tố hợp thành của Đảng: chủ nghĩa Mác- Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong, là tổ chức của những chiến sĩ ưu tú nhất của giai cấp công nhân và của toàn thể dân tộc. 
      Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng ta luôn đứng vững trên lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân, tuyệt  đối trung thành với lợi ích của nhân dân, của dân tộc, coi đó là điểm xuất phát của mọi đường lối, chủ trương của Đảng. Ngay Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do đồng chí Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng phản ánh đúng quy luật khách quan, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, đáp ứng đúng yêu cầu của thực tiễn, vạch ra được mục tiêu, phương hướng và giải pháp cơ bản của cách mạng. Từ đó tiến hành tập hợp, tổ chức, động viên toàn thể nhân dân biến đường lối của Đảng thành hành động cách mạng của quần chúng. Tinh thần cơ bản của bản Cương lĩnh ấy được phát triển, cụ thể hoá đáp ứng những nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ và từng bước xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. 
      Ngay sau khi giành được chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lí gì". Mục tiêu của Đảng là làm cho mọi người dân ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành, được sống ấm no và sung sướng; mang lại quyền làm chủ về kinh tế, xã hội cũng là thước đo trình độ giải phóng xã hội, sự phát triển của xã hội.
            Lịch sử tám mươi mốt năm xây dựng và phát triển của  Đảng đã chứng tỏ, cội nguồn sức mạnh của Đảng không chỉ thể hiện ở chỗ mọi hoạt  động của Đảng đều xuất phát vì lợi ích của nhân dân mà còn thể hiện Đảng luôn luôn gắn bó chặt chẽ với nhân dân, được nhân dân tin tưởng, ủng hộ và che chở. Liên hệ mật thiết với nhân dân đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của Đảng và cũng là cội nguồn sức mạnh của Đảng trong 81 năm qua. Chính từ thực tiễn cách mạng, Đảng đã nhận thức sâu sắc: "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng đã tổ chức và phát huy được lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân” 
      Là một Đảng cách mạng vì nhân dân, trước hết, đường lối chính trị của Đảng phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân. Lãnh tụ Hồ  Chí Minh coi việc hoạch định đường lối chính sách của Đảng không chỉ là công việc của bản thân Đảng mà còn phải biết phát huy trí tuệ của toàn dân vào việc xây dựng đường lối của Đảng: "Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết".  "Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta. Đảng không chỉ có đường lối chính trị xuất phát từ lợi ích chính đáng của quảng đại đa số nhân dân, mà còn thể hiện ở trong tổ chức của Đảng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn đặt lợi ích của nhân dân, của dân tộc lên trên hết, đó cũng chính là nguyên nhân sâu xa làm nên sức mạnh đoàn kết rất đáng tự hào của Đảng ta, đã tạo nên uy tín lãnh đạo của Đảng đối với toàn dân tộc; làm cho Đảng được dân tin, dân phục, dân yêu mến, dân giúp đỡ, ủng hộ và bảo vệ. 
      Sức mạnh và uy tín của Đảng không chỉ ở  đường lối chính trị với mục vì dân mà  còn thể hiện ở đức hy sinh, sẵn sàng xả  thân vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc của hàng triệu các thế hệ đảng viên trong sự  nghiệp cách mạng, đặc biệt trong đấu tranh giành chính quyền cách mạng và trong đấu tranh giải phóng dân tộc.
     Nhìn lại chặng đường đấu tranh đầy khó khăn, thử thách nhưng vô cùng oanh liệt của Đảng ta trong tám thập kỉ qua, chúng ta càng thấm thía bài học “lấy dân làm gốc”, trân trọng quá khứ, nâng niu giữ gìn những thành quả cách mạng của cách mạng, càng thấm thía và biết ơn vô hạn công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ đảng viên đó xả thân vì nền độc lập, thống nhất của đất nước, càng thêm tự hào về Đảng ta, nhân dân và dân tộc ta. 
      Khi tổng kết những kinh nghiệm quý sau 20 năm đổi mới, một trong những bài học quan trọng hàng đầu được Đại hội X của Đảng đúc kết là bài học “lấy dân làm gốc”: “Đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân. Những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân có vai trò quan trọng trong việc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Dựa vào nhân dân, xuất phát từ thực tiễn và thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát hiện nhân tố mới, từng bước tìm ra quy luật phát triển, đó là chìa khóa của thành công”
Ý nghĩa đối với bản thân :
     Là một sinh viên đang còn ngồi trên ghế nhà trường bản thân tôi cũng tự nhận thấy những kiến thức về Đường lối cách mạng Đảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh hay chủ nghĩa Mac –Lenin, là cái cốt lõi đưa cho tôi tới được với những quan điểm  logic những ý nghĩa vô cũng to lớn về cách mạng, về sự nghiệp cách mạng của dân tộc và tôi biết sự nghiệp cách mạng là của dân tộc, là của nhân dân và vì nhân dân
   Tôi đã từng nghe:
“Dân biết , dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
“Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”
     Những câu nói bất hủ ấy mà làm tôi luôn hướng về nhân dân, tôi cũng có một suy nghĩ, một ham muốn là làm sao sau này mình sẽ có một phần đóng góp cho sự phát triển chung xã hội,cho sự nâng cao dân trí của người dân
     Chuyên ngành tôi nghiên cứu là Giáo Dục Học và tôi ưa thích nó, tôi cũng có ý tưởng là tôi sẽ áp dụng nó vào quá trình làm việc của mình sau này đặc biệt là tham gia vào việc giáo dục những lý tưởng sống, những nhiệm vụ học tập cần thiết, những yêu cầu từ thực tiễn, chống lại những sự cổ hủ lạc hậu.  sẽ tới từng nhà, dà từng đối tượng, bản thân giáo dục là quốc sách hàng đầu là việc quan trọng bậc nhất để đưa sự phát triển của đất nước đi lên, dân trí có tăng lên thì đới sống, cũng như suy nghĩ của nhân dân mới tích cực
      Bản thân tôi cũng đang phấn đấu học tốt, để đem tri thức của bản thân để phục vụ toàn dân, vì lợi ích mười năm trồng cây và vì lợi ích trăm năm trồng người,tôi hi vọng trên con đò của tôi trở sẽ được thành công như những tư tưởng lớn của người đem theo hành trang của một Đảng viên trẻ tôi sẽ cố gắng nhiệt huyết đi cùng nhân dân, chia sẻ, tâm sự và thảo luận những nỗi niềm của họ, vì một đất nước phồn vinh và hạnh phúc.
Câu 9 : Bản chất giai cấp công nhân của Đảng được thể hiện ở những điểm chủ yếu nào trong Điều lệ Đảng ?
      Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nên công nghiệp hiện đại với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao; là lực lượng lao động cơ bản tiên tiến trong các quy trình công nghệ, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại hiện nay.
     Là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất là chủ yếu (với trình độ trí tuệ ngày càng cao, đồng thời cũng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được ứng dụng ngay trong sản xuất). Vì thế, giai cấp công nhân có vai trò quyết định nhất sự tồn tại và phát triển xã hội.
     Vậy ở trong Điều lệ Đảng bản chất của giai cấp công nhân của Đảng được thể hiện ở những điểm chủ yếu:
      Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn khẳng định bản chất giai cấp công nhân của mình.
     Trong "Chương trình tóm tắt" được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng khẳng định: "Đảng là đội tiên phong lãnh đạo của đội quân vô sản gồm một số lớn giai cấp công nhân và làm cho họ có đủ năng lực lãnh đạo quần chúng".
     Sách lược vắn tắt viết: "Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được quần chúng".
     Đại hội X đã thông qua sự diễn đạt về Đảng là: "Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc".
      Sự diễn đạt như trên thể hiện ở 2 nội dung sau:
         + Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam và đồng thời là đội tiền phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc. 
         + Đảng là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.
     - Xuất phát từ nhận thức khoa học về vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
         + Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù cơ bản nhất của CNXHKH. Phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một trong những cống hiến vĩ đại nhất của Chủ nghĩa Mác - Lênin.
      Để hiểu rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, trước hết cần làm rõ khái niệm giai cấp công nhân. 
         + Khái niệm giai cấp công nhân (theo Nghị quyết TW 6 khoá X).
     - Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp.
        + Là 1 lực lượng to lớn, quan trọng trong xã hội, chưa định hình rõ nét, còn có sự biến đổi, phát triển.
        + Thành phần: bao gồm những người lao động chân tay và trí óc.
        + Đặc điểm: làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp.
(Tính đến đầu năm 2007, tổng số công nhân nước ta khoảng 9,5 triệu người, chiếm tỷ lệ 11% dân số và 21% lực lượng lao động xã hội, trong đó số lượng công nhân làm việc trong các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khoảng 6,75 triệu người).
    Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:
          + Trước hết phải lãnh đạo tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam, đấu tranh giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính dân chủ nhân dân.
          + Trong giai đoạn cách mạng XHCN, giai cấp công nhân từng bước lãnh đạo nhân dân lao động xây dựng thành công CNXH, không có người bóc lột người, giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, bất công.
=> Hai nội dung trên quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiện. Thể hiện sự nghiệp vĩ đại của giai cấp công nhân là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người và nhân loại khỏi mọi áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.
         + Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ ý nghĩa, nội dung căn bản, thể hiện cụ thể của sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn mới là:  Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích của toàn dân tộc trong mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
- ở nước ta, giai cấp công nhân tuy số lượng còn ít, nhưng giai cấp công nhân Việt Nam và chính Đảng của mình luôn đứng trên lập trường cách mạng, giữ vững bản chất giai cấp, lấy Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.
   - Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa giai cấp và dân tộc... Thắng lợi của cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ đều bắt nguồn từ việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ mật thiết giữa giai cấp và dân tộc. 
       + Trong điều kiện của nước ta, quyền lợi của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc là thống nhất. 
       + Sự gắn kết máu thịt giữa Đảng với giai cấp và dân tộc đã được thể hiện ngay từ nguồn gốc ra đời của Đảng ta. Đảng ra đời không chỉ là sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân mà còn với phong trào yêu nước.
   - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định rằng: Đảng ta không chỉ là Đảng của giai cấp công nhân mà còn là Đảng của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.
   - Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 của Đảng (tháng 2 - 1951), Bác chỉ rõ: "Đảng Lao động Việt Nam phải là người lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, trung thành của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, của nhân dân Việt Nam... Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam".(Trích Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t. 12, tr. 37 - 38).
   - Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, được toàn dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo nhân dân. Về vấn đề lợi ích, Đảng không có lợi ích nào khác ngoài mục đích phục vụ nhân dân, phục vụ dân tộc. Cụ thể:
          + Trên thực tế, Đảng ta ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích không chỉ của giai cấp công nhân mà còn vì lợi ích của nhân dân lao động, của toàn dân tộc.
          + Trong cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng ta nêu khẩu hiệu: "Độc lập dân tộc" và "Người cày có ruộng".
         + Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta đề ra mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 
   * Để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong tình hình mới, nhiệm vụ của mỗi đảng viên của Đảng là:
        + Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
        + Kiên định và vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Xuất phát từ thực tiễn lịch sử của nước ta đề ra đường lối, chủ trương và các chính sách đúng đắn; đồng thời bằng hành động cách mạng biến đường lối, chủ trương đó thành hiện thực sinh động trên mọi mặt của đời sống xã hội.
       + Đấu tranh kiên quyết, kịp thời chống lại mọi biểu hiện cơ hội, hữu khuynh, giáo điều, bảo thủ; phê phán những luận điệu và thủ đoạn của các thế lực thù địch phủ nhận, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác - Lên nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
         + Luôn luôn phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hoá, tri thức của thời đại để làm giàu kiến thức, giải quyết thành công những vấn đề lý luận và thực tiễn của cách mạng nước ta, góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của thế giới.
        + Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt đảng, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.
        + Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng lập trường, quan điểm, ý thức tổ chức của giai cấp công nhân; xây dựng đội ngũ cán bộ và đảng viên theo quan điểm của giai cấp công nhân.
        + Củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, chăm lo đời sống và thực sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
        + Kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng.
     Có lợi ích giai cấp đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản (giai cấp công nhân: xóa bỏ chế độ tư hữu, xóa bỏ áp bức bóc lột, giành chính quyền và làm chủ xã hội. Giai cấp tư sản không bao giờ tự rời bỏ những vấn đề cơ bản đó). Do vậy, giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để.
     Bất kỳ giai cấp công nhân nước nào, khi đã có đảng tiên phong của nó, đều có những đặc điểm cơ bản, chung nhất đó. Do vậy, giai cấp công nhân mỗi nước đều là một bộ phận không thể tách rời giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Vì vậy chủ nghĩa Mác-Lênin mới có quan điểm đúng đắn về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới cùa giai cấp công nhân.
     Có ý kiến đã cho rằng :  Giai cấp công nhân Việt Nam số người còn ít, không lãnh đạo được cách mạng. 
      Nói vậy không đúng. Lãnh đạo được hay là không, là do đặc tính cách mạng, chứ không phải do số người nhiều ít của giai cấp. Giai cấp công nhân có chủ nghĩa Mác - Lênin. Trên nền tảng đấu tranh, họ xây dựng nên Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin là Đảng Lao động Việt Nam. Đảng đề ra chủ trương, đường lối, khẩu hiệu cách mạng, lôi cuốn giai cấp nông dân và tiểu tư sản vào đấu tranh, bồi dưỡng họ thành những phần tử tiên tiến. Lại có những phần tử trí thức tham gia cách mạng và vô sản hoá. Thành thử đội ngũ chính trị của giai cấp công nhân ngày càng phát triển. Mai sau, công nghệ của ta ngày càng phát triển, thì số công nhân ngày càng tǎng thêm
     Trong thời đại ngày nay, bản chất giai cấp của Đảng Cộng sản vẫn chỉ có thể là bản chất giai cấp của giai cấp công nhân; cơ sở chính trị - xã hội chủ yếu của Đảng Cộng sản phải là giai cấp công nhân trong quá trình phát triển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ; tư duy mới về giai cấp công nhân phải gắn liền với tư duy mới về chủ nghĩa xã hội hiện đại. Có thể nói, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự lạc hậu, bất cập trước đây của Đảng Cộng sản ở một số nước tư bản phát triển là do không nhận thức được điều này. Bởi vậy, ở đó, Đảng Cộng sản dần dần mất cơ sở chính trị - xã hội cần có của mình, gắn liền với những cương lĩnh ngày càng xa rời cuộc sống. Giai cấp công nhân hiện đại, nhân dân lao động không thấy được con đường đi tới một xã hội tốt đẹp hơn, mà đôi khi mất phương hướng và dường như kỳ vọng vào một tương lai nào đó trong lòng chủ nghĩa tư bản hiện đại, khi ở đó xuất hiện và phát triển dần một số yếu tố của xã hội mới, nhưng đội tiên phong của giai cấp công nhân hiện đại đã không nhận ra để làm sinh sôi nảy nở.
       Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân Việt Nam, là Đảng của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Bởi nhiều lẽ: Đảng là con đẻ của hai phong trào: phong trào công nhân và phong trào yêu nước (chứ không chỉ là con đẻ của phong trào công nhân như ở những nước tư bản). Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, trong đó đặt nhiệm vụ dân tộc lên trên và lên trước, coi nhiệm vụ dân tộc là tiền đề, điều kiện tiên quyết và là cơ sở để hoàn thành nhiệm vụ giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng động viên sức mạnh toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, coi cách mạng xã hội chủ nghĩa không chỉ là nhiệm vụ giai cấp mà còn là nhiệm vụ dân tộc, định hướng cho nhiệm vụ dân tộc, bảo đảm độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc triệt để, đưa dân tộc bỏ qua thời đại dân tộc tư sản, tiến vào thời đại dân tộc xã hội chủ nghĩa.
     Là Đảng của giai cấp công nhân, trước hết Đảng phải hiểu giai cấp công nhân và dựa vào giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân Việt Nam ngày nay đã thay đổi rất nhiều (như trên đã phân tích), đang phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, phát triển trong sự phân hóa thường xuyên - một sự phân hóa tích cực. Đó là sự phân hóa trong cơ cấu ngành nghề kinh tế - kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất; trong cơ cấu thành phần kinh tế, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất; trong phân công lao động xã hội
         Bản chất giai cấp công nhân của Đảng đã được thể hiện rõ ở trong Điểu lệ Đảng hiện lên như một bức tranh toàn cảnh về cái đẹp đẽ và cao cả nhất, hiện thân cho tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của cha ông ta từ thời kháng chiến, tinh thần ấy vẫn trường tồn tới ngày nay như bản anh hùng ca mãnh liệt cho chúng ta noi theo.
Câu 10 :  Đồng chí hãy phân tích sự cần thiết của việc học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Liên Hệ việc thực hiện cuộc vận động ở cơ quan, đơn vị đồng chí ?
      Sinh ra và lớn lên tại vùng quê thanh bình và giản dị, tôi được thừa hưởng cuộc sống hòa bình trong thế kỷ XXI, được chứng kiến sự đổi thay của đất nước, như một bức tranh muôn màu sắc, tôi được học tập được tu dưỡng, trau dồii kiến thức và được tiếp xúc với nhiều bài học quý báu từ lời dạy của thầy từ câu nói của cô. Tất cả những bài học ấy luôn đọng trong tâm trí tôi như trang sách luôn sát cánh bên tôi vậy !
    Tôi đặc biệt thích câu nói khi học Lịch sử lớp 12:
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”
     Câu nói ấy luôn luôn xuất hiện trong tâm chí tôi như một tuyên ngôn cho tôi vậy. khi nhắc tới cấu nói tôi lại cảm thấy cái gì đó thôi thúc tôi càng phải phấn đấu và rèn luyện nhiều hơn nữa.
     Các bạn biết câu nói đó của ai không ?
      Lãnh tụ, danh nhân Hồ Chí Minh đấy các bạn ạ. Được viết vào 19/12/1946 Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
     Đó chỉ là một câu nói trong rất nhiều câu nói mà tôi thích của Người, tất cả những gì thuộc về người tôi cũng đêu thích và tôn vinh như những ý nghĩa cao cả nhất.  
     Đã qua hơn 10 năm  sống trong thế kỷ XXI nhưng tấm gương Hồ Chí Minh vĩ đại luôn được mỗi người dân Việt hướng tới.
     Sau gần 5 năm triển khai và thực hiện, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã tạo ảnh hưởng sâu sắc đến nhận thức của cán bộ, đảng viên và người lao động. Thông qua nghiên cứu, học tập các chuyên đề về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ý thức tiết kiệm và tinh thần tương thân, tương ái... đã giúp cho toàn bộ cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên, toàn dân  trong tất cả các đơn vị có những chuyển biến về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
     Như vậy chúng ta có thể thấy được sự cần thiết của việc học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có vai trò rất quan trọng trong công cuộc phát triển của đất nước trên tất cả mọi lĩnh vực. Được thể hiện cụ thể như sau:
         Trong thời kỳ đổi mới với bao khó khăn và thử thách từ nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh và quốc phòng. Thực tiễn kinh tế - xã hội và những tình huống chiến lược cũng như những nhiệm vụ cụ thể nhiều khi chúng ta tỏ ra bế tắc chỉ vì việc học. Bế tắc không phải chúng ta không chú ý đến việc học tập đối với nền giáo dục quốc dân và đối với bộ máy nhân lực của Chính phủ chúng ta cũng đã làm được rất nhiều việc.
            Nếu không, làm sao chúng ta đứng vững cho đến ngày nay với một nhà nước độc lập tự chủ, kinh tế phát triển đều đặn, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Vì vậy, xin được miễn nói những gì là thành tựu. Chỉ xin nói thêm về những thực trạng cần có đổi mới trong việc học tập cho cán bộ và công chức từ giáo huấn Hồ Chí Minh:
            Chưa có chương trình cụ thể để gắn việc học với điều kiện của thực tiễn. Làm cái gì thì học cái đó trước, cái đó nhiều, cái đó suốt đời. Đưa người đã học vào bộ máy công chức là chính, lấy người chưa học là phụ (tránh tình trạng hiện nay: sinh viên thất nghiệp, công chức đi học tại chức!).
            Đưa thực tiễn vào tất cả các khâu: phân bổ thời gian; bố trí con người "dạy thực tiễn" (như dạy sinh viên hành chính là trưởng phó phòng, chủ tịch, phó chủ tịch, dạy tiếp dân...).
            Tiếp cận cách thức đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức trong nước với thế giới để tránh tình trạng bất cập có thể có: một bên là Việt Nam và một bên là thế giới còn lại!
            Thiết nghĩ một trong những điều mà giáo huấn Hồ Chí Minh trở thành tư tưởng Hồ Chí Minh chính là giá trị "đi cùng thời đại" của những giáo huấn đó
       1. Đạo đức và vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội
     Đạo đức, hiểu theo nghĩa chung nhất, là một hình thái của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên tắc, chuẩn mực và thang bậc giá trị được xã hội thừa nhận
     Đạo đức có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của mỗi người sao cho phù hợp với lợi ích của toàn xã hội
    Đối với mỗi cá nhân, ý thức và hành vi đạo đức mang tính “bổn phận” diễn ra một cách tự giác, chủ yếu xuất phát từ nhu cầu tinh thần bên trong. Đạo đức của mỗi cá nhân chịu sự tác động của dư luận xã hội, cũng như sự tự kiểm tra bởi chính mình
Đạo đức có chức năng điều chỉnh hành vi, chức năng giáo dục và chức năng phản ánh.
Chức năng điều chỉnh hành vi
     - Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi. Sự điều chỉnh hành vi làm cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển, bảo đảm quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng.
     Loài người sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi, trong đó có chính trị, pháp quyền và đạo đức…
     - Chính trị điều chỉnh hành vi giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia bằng các biện pháp đặc trưng như ngoại giao, kinh tế, hành chính, bạo lực…
     - Pháp quyền và đạo đức điều chỉnh hành vi trong quan hệ giữa các cá nhân với cộng đồng bằng các biện pháp đặc trưng là pháp luật và dư luận xã hội, lương tâm. Sự điều chỉnh này, có thể thuận chiều, có thể ngược chiều.
     - Điều chỉnh hành vi của đạo đức và pháp quyền khác nhau ở mức độ đòi hỏi và phương thức điều chỉnh.
     Pháp quyền thể hiện ra ở pháp luật, là ý chí của giai cấp thống trị buộc mọi người phải tuân theo. Những chuẩn mực của pháp luật được thực hiện bằng ngăn cấm và cưỡng bức (quyền lực công cộng cùng với đội vũ trang đặc biệt, quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù…). Pháp quyền là đạo đức tối thiểu của mỗi cá nhân sống trong cộng đồng.
     Đạo đức đòi hỏi từ tối thiểu đến tối đa đối với các hành vi cá nhân. Phương thức điều chỉnh là bằng dư luận xã hội và lương tâm. Những chuẩn mực đạo đức bao gồm cả chuẩn mực ngăn cấm và cả chuẩn mực khuyến khích.
     Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức bằng dư luận xã hội và lương tâm đòi hỏi từ tối thiểu tới tối đa hành vi con người đã trở thành đặc trưng riêng để phân biệt đạo đức với các hình thái ý thức khác, các hiện tượng xã hội khác và làm thành cái không thể thay thế của đạo đức.
    - Mục đích điều chỉnh: bảo đảm sự tồn tại và phát triển xã hội bằng tạo nên quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân theo nguyên tắc hài hòa lợi ích cộng đồng và cá nhân (và khi cần phải ưu tiên lợi ích cộng đồng).
   - Đối tượng điều chỉnh: Hành vi cá nhân (trực tiếp) qua đó điều chỉnh quan hệ cá nhân với cộng đồng (gián tiếp).
     - Cách thức điều chỉnh được biểu hiện: Lựa chọn giá trị đạo đức; xác định chương trình của hành vi bởi lý tưởng đạo đức; xác định phương án cho hành vi bưỏi chuẩn mực đạo đức; tạo nên động cơ của hành vi bởi niềm tin, lý tưởng, tình cảm của đạo đức, kiểm soát uốn nắn hành vi bởi dư luận xã hội.
     Chức năng điều chỉnh hành vi được thực hiện bởi hai hình thức chủ yếu.
     - Xã hội và tập thể tạo dư luận để khen ngợi khuyến khích cái thiện, phê phán mạnh mẽ cái ác.
     - Bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi cơ sở những chuẩn mực đạo đức xã hội.
Chức năng giáo dục
     Con người vươn lên “chân - thiện - mỹ”. Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể của lịch sử. Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy.
     Con người sinh ra bắt gặp hệ thống đạo đức của xã hội. Hệ thống ấy tác động đến con người và con người tác động lại hệ thống. Hệ thống đạo đức do con người tạo ra, nhưng sau khi ra đời hệ thống đạo đức tồn tại như là cái khách quan hoá tác động, chi phối con người.
     Xã hội có giai cấp hình thành và tồn tại nhiều hệ thống đạo đức mà các cá nhân chịu sự tác động. Ở đây, môi trường đạo đức: tác động đến đạo đức cá nhân bằng nhận thức đạo đức và thực tiễn đạo đức. Nhận thức đạo đức để chuyển hoá đạo đức xã hội thành ý thức đạo đức cá nhân. Thực tiễn đạo đức là hiện thực hoá nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức. Các hành vi đạo đức lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội và cá nhân làm cả đạo đức cá nhân và xã hội được củng cố, phát triển thành thói quen, truyền thống, tập quán đạo đức.
    Hiệu quả giáo dục đạo đức phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, cách thức tổ chức, giáo dục mức độ tự giác của chủ thể và đối tượng giáo dục trong quá trình giáo dục.
     - Giáo dục đạo đức gắn với tiến bộ đạo đức:
     Nhân đạo hóa các quan hệ xã hội và mức độ phổ biến nhân đạo hóa các quan hệ xã hội; sự hoàn thiện của cấu trúc đạo đức và mức độ phổ biến của nó…sẽ giúp chủ thể lựa chọn, đánh giá đúng các hiện tượng xã hội, đánh giá đúng tư cách của người khác hay của cộng đồng cũng như tự đánh giá đúng thông qua mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung, phương thức, hình thức và các bước đi của quá trình giáo dục sẽ giúp mỗi cá nhân và cả cộng đồng tạo ra các hành vi và thực tiễn đạo đức đúng.
     Như vậy, chức năng giáo dục của đạo đức cần được hiểu một mặt “giáo dục lẫn nhau trong cộng đồng”, giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và cộng đồng;mặt khác, là sự “ tự giáo dục” ở các cấp độ cá nhân lẫn cấp độ cá nhân lẫn cấp độ cộng đồng.
    Chức năng phản ánh
    Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức có chức năng nhận thức thông qua sự phản ánh tồn tại xã hội.
     Sự phản ánh của đạo đức với hiện thực có đặc điểm riêng khác với các hình thái ý thức khác.
     Đạo đức là phương thức đặc biệt của sự chiếm lĩnh thế giới con người. Nếu xét dưới góc độ bản thể luận, đạo đức là hệ thống tinh thần, được quy định bởi tồn tại xã hội. Nhưng xét dưới góc độ xã hội học thì hệ thống tinh thần (nhận thức đạo đức) không tách rời thực tiễn – hành động của con người. Do vậy, đạo đức là hiện tượng xã hội vừa mang tính tinh thần vừa mang tính hành động hiện thực.
Sự nhận thức của đạo đức có đặc điểm:
     - Hành động đạo đức tiếp liền sau nhận thức giá trị đạo đức. Và đa số trường hợp có sự hòa quyện ý thức đạo đức với hành động đạo đức. (Khác những khoa học và ứng dụng nghiên cứu thành tựu khoa học có khoảng cách về không gian và thời gian).
     - Nhận thức của đạo đức là quá trình vừa hướng ngoại (hướng ra ngoài) và    hướng nội (tự nhận thức – hương vào chính mình, chính chủ thể).
     Nhận thức hướng ngoại lấy chuẩn mức, giá trị, đời sống đạo đức của xã hội làm đối tượng. Đó là hệ thống giá trị thiện và ác, trách nhiệm và nghĩa vụ, hạnh phúc và ý nghĩa cuộc sống…, những “cách thức và phương tiện” tạo ra các giá trị đạo đức. Nhờ sự nhận thức này mà chủ thể nhận thức đã chuyển hóa đạo đức của xã hội như là cái chung thành ý thức đạo đức của cá nhân như là cái riêng.
     Nhận thức hướng nội (tự nhận thức), lấy bản thân mình – chủ thể đạo đức – làm đối tượng nhận thức. Đây là quá trình tự đánh giá, tự thẩm định, tự đối chiếu những nhận thức, hành vi, đạo đức của mình với những chuẩn mực giá trị chung của cộng đồng. Từ cách nhận thức này mà chủ thể hình thành phát triển thành các quan điểm và nguyên tắc sống: sáng tạo hay chủ động, hy sinh hay hưởng thụ, vị tha hay vị kỷ, hướng thiện hay sa vào cái ác…
     Trong tự nhận thức, vai trò của dư luận xã hội và lương tâm là to lớn. Dư luận xã hội là sự bình phẩm, đánh giá từ phía xã hội đối với chủ thể, còn lương tâm là sự phê bình. Cả hai đều giúp chủ thể tái tạo lại giá trị đạo đức của mình – giá trị mà xã hội mong muốn.
     Từ nhận thức giúp chủ thể ý thức được trách nhiệm của mình và sẵn sàng để ho thành trách nhiệm đó. Trong cuộc sống có vô số những trách nhiệm như vậy. Nó luôn đặt ra trong quan hệ phong phú giữa chủ thể đạo đức với xã hội, gia đình, bạn bè, đồng chí, đồng đội, tập thể, dân tộc, gia cấp, tổ quốc.
     Nhận thức đạo đức (đạo đức phản ánh hiện thực) ở hai trình độ : trình độ thông thường và trình độ lý luận.
    - Nhận thức đạo đức ở trình độ thông thường là ý thức thông thường, những giá trị riêng lẻ. Nó đáp ứng nhu cầu đạo đức thông thường đủ để chủ thể xử lý kịp thời trong cuộc sống và sự phát triển bình thường của xã hội. Mọi cá nhân đều có thể và cần phải ảnh ánh đạo đức ở trình độ này.
    - Nhận thức đạo đức ở trình độ lý luận là những nhận thức có tính nguyên tắc được chỉ đạo bởi những giá trị đạo đức có tính tổng quát. Trình độ này đáng ứng những đòi hỏi của sự phát triển đạo đức và tiến bộ xã hội. Đây là yếu tố không thể thiếu được trong hệ tư tưởng và hành vi của các gia cấp cầm quyền.
     - Nhận thức đạo đức đưa lại tri thức đạo đức, ý thức đạo đức. Các cá nhân, nhờ tri thức đạo đức, ý thức đạo đức xã hội đã nhận thức (trở thành đạo đức cá nhân). Cá nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng giá trị đạo đức xã hội trở thành cơ sở để cá nhân điều chỉnh hành vi, thực hiện đạo đức (hiện thực hóa đạo đức).
      2. Về sự suy thoái đạo đức, lỗi sống trong xã hội hiện nay
     Quan 20 năm đỗi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tự to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Việc thực hiện dân chủ trong Đảng và trong xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân có tiến bộ… Đa số cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò tiên phong, gương mẫu năng động, sáng tạo trong công tác, rèn luyện phẩm chất, năng lực, đóng vai trò nòng cốt trong công cuộc đổi mới
     Trong đảng và trong xã hội ta hiện nay xuất hiện tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống. Đó là nguy cơ lớn liên quan tới sự sống còn của Đảng của chế độ.
     Sự suy thoái về đạo đức,lối sống được biểu hiện ở các dạng chủ yếu sau đây:
     Thứ nhất là: chủ nghĩa cá nhân, lối sống vị kỷ, vụ lợi, buông thả hưởng thụ, thiếu lý tưởng, thiếu ý chí phấn đấu xuất hiện trong tất cá các tầng lớp xã hội.
     Thứ hai là: tệ tham nhũng, hối lộ, bòn rút của công, lãng phí diễn ra ở nhiều ngành nhiều lĩnh vực đang trở thành “quốc nạn” gây bức xúc cho nhân dân
     Thứ ba là: hành động cơ hội “chạy chọt” vì lợi ích cá nhân khá phổ biến
     Thứ tư là: lời nói không đi đôi với việc làm, nói và làm trái với nghị quyết của Đảng, nói nhiểu làm ít; phát ngôn tủy tiện, vô nguyên tắc
     Thứ năm là: tệ quan liêu, xa dân, lãnh đạo vô cảm trước những khó khăn bức xúc và yêu cầu, đòi hỏi chính đáng của nhân dân
     Thứ sáu là : tình trạng suy thoái về đạo đức trong quan hệ gia đình với quan hệ giữa cá nhân và xã hội, như gia trưởng vũ phu bất hiếu
      Thứ bảy là:  đạo đức nghề nghiệp sa sút ngay cả trong lĩnh vực được xã hội tôn vinh, hiện tượng mê tín dị đoan có chiều hướng lan rộng ảnh hưởng xấu tới thuần phong mĩ tục và trật tự an toàn xã hôi.
Nguyên nhân của tình trạng trên có cả khách quan và chủ quan
     Về khách quan: trước hết do tác động tiêu cực của cơ chế kinh tế thị trường đặc biệt là khả năng kích thích lối sống thực dụng của cơ chế này. Sự tác động của đạo đưc, lối sống tư sản hưởng thụ phương tây vào nước ta trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và bùng nổ mạng thông tin toàn cầu. các thế lực thù địch phản động đã chủ động khuyến khích lối sốn ích kỷ, hưởng thụ, thực dụng trong cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo và gia đình họ coi đó là một trong những biện pháp thực hiện “ diễn biến hòa bình”:
     Về nguyên nhân chủ quan: do chúng ta chưa nhận thực đầy đủ sâu sắc vai trò nền tảng của đạo đức trong ổn định, phát triển xã hội và tác động của cơ chế kinh tế thị trường tới đạo đức xã hội trên thực tế chúng ta chưa coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống; thiếu sự tổ chứ, phối hợp cảu các ngành các cấp. một bộ phận cán bộ lãnh đạo, đảng viên và gia đình chưa nêu gương về đạo đức và lối sống
     Tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống nêu trên đã có tác động lớn đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay. Nó đang làm thay đổi lệch lạc những chuẩn mực thang bậc giá trị truyền thống giá trị tốt đẹp của dân tộc và cách mạng, có tác hại tới sự trường tồn của dân tộc và sự phát triển của đất nước, sự suy thoái về đạo đức của một số bộ phận cán bộ, đảng viên làm cho nhân dân lo lắng, bất bình, ảnh hưởng xấu tới uy tín và vai trò lãnh đạo cuả tổ chức đảng, đến việc tổ chức thực hiện đường lối chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước thực trạng đó tiềm ẩn nhiều nguy cơ, cùng với các nguy cơ khác dẫn tới bất ổn định chính trị xã hội, liên quan đến “sự sống còn của đảng, của chế độ”
     Để năng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng ngăn chặn và đẩy lùi suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, trong đảng và trong xã hội, hội nghị trung ương III khóa X của đảng đã ban hành nghị quyết “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí” Ngày 7/11/2006 Bộ Chính Trị Ban Chấp hành TW Đảng ra chỉ thị số 06-CT/TW về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn đảng và xã hội. thực hiện tốt cuộc vận động này sẽ góp phấn quan trọng vào cuộc đấu tranh và đẩy lùi suy thoái về đạo đức, lối sống trong đảng và trong xã hội  
Ø   Sự cần thiết phải học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
- Hiện nay đất nước đang trên đà đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa trên tất cả các mặt trận, tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của người ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, đóng vai trò chủ đạo trong suy nghĩ và hành động của các cấp lãnh đạo và toàn dân.
- Như chúng ta đã biết, lúc sinh thời Bác Hồ của chúng ta đã khẳng định: Đạo đức là gốc của cách mạng. Bác coi đạo đức của con người như gốc của cây, như nguồn của sông. Người luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng và tích cực của đạo đức trong đời sống xã hội. Bởi vậy, học tập, rèn luyện tu dưỡng đạo đức, lối sống theo tấm gương Bác Hồ trong giai đoạn hiện nay là điều rất cần thiết và quan trọng.
- Là một cán bộ viên chức, bản thân nhận thức được rằng việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu là một trách nhiệm đối với bản thân để từng bước hoàn thiện mình. Trong cuộc sống đời tư cũng như trong công việc, bản thân luôn xác định rằng: “Việc gì có lợi dù nhỏ cũng làm, việc gì có hại dù nhỏ cũng tránh” và tuyệt đối tránh lãng phí cả về tiền bạc và thời gian, luôn phát huy ý thức bảo vệ của công, gần gũi, sâu sát với quần chúng nhân dân, lấy tiêu chuẩn người cán bộ cách mạng để làm mục tiêu phấn đấu.
Ø  Những phẩm chất đạo đức cách mạng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh mà cán bộ, đảng viên, công chức phải thường xuyên học tập và noi theo:
+  Những phẩm chất đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: 
- Trung với nước hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc, phải “tuyệt đối trung thành với Đảng với nhân dân”.
- Tinh thần dân chủ, tôn trọng tập thể, tôn trọng quần chúng nhân dân, luôn luôn quan tâm đến mọi người, gắn bó với nhân dân. Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình là giúp cho mỗi người ngày càng tiến bộ tốt đẹp hơn, phải thực hiện phê bình, tự phê bình chân thành, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm.
- Cần kiệm là phẩm chất của mọi người lao động trong đời sống, trong công tác: biết lao động cần cù, siêng năng và biết tiết kiệm sức lao động, thì giờ, tiền của nhân dân của đất nước và của bản thân.
- Liêm chính là phẩm chất của người cán bộ khi thi hành công vụ phải ngay thẳng, không tà, trong sạch, “luôn chí công vô tư” là rất mực công bằng, không có lòng riêng, thiên tư, thiên vị. Đem lòng chí công vô tư đối với người, đối với việc.
+  Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh:
- Trọn đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và nhân loại.
- Kiên định mục đích lý tưởng, bảo vệ chân lý, giữ vững quan điểm, khí phách vượt qua khó khăn thử thách.
- Kính trọng nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nguyện làm “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.  
- Nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, hết mực vì con người, “dành tình thương yêu cho tất cả, chia sẻ với mỗi người nỗi đau”.
- Coi khinh sự sa hoa, sống thật sự cần kiệm giản dị, sống trong sạch, không gợn chút riêng tư.

   Đó chỉ là vấn đề lý thuyết còn thực tế thì sao? Gần 5 năm thực hiện cuộc vấn động nước ta đã đạt được những thành tựu gì, các cơ chế về đạo đức có được thay đổi các tình trạng quan tham ô liệu có còn, đó là những cấu hỏi mà khồn chỉ riêng tôi đưa ra mà nó là tình trạng chung của tất cả chúng ta
     Bấy lâu nay chúng ta chỉ thấy được trên lý thuyết còn phần thực hiện hay không thực sự rất khó, đòi hỏi mỗi địa phương có cái nhìn khái quát và toàn diện nhất chứ nhất định khổng thể nhìn nhận bằng những con số trên giấy tờ mà thực tiễn không phản ánh đúng.
    Là người dân Việt, là những đảng viên trẻ tương lai chúng ta hãy cần có sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn sao cho phù hợp học tập theo bác như một chuẩn mực một tiền đề cho chúng ta tiến bước đi lên, phấn đấu nỗ lực vì sự  phát triển bền vững của đất nước, hãy tạm gác lại lợi ích cá nhân, hãy bỏ qua những xiềng xích bấy lâu mà vì tổ quốc, vì lợi ích của nhân dân mà phục vụ. hãy thể hiện hành động trước tiên, các nhà lãnh đạo hãy thể hiện bằng tất cả những gì mà họ có đi, đừng lời nói rồi bắt người khác phải làm, đừng chỉ là chuyến thăm quan đơn giản mà làm tốn kém bao nhiêu của cải của địa phương, hãy bỏ qua bớt thủ tục để có sự đơn giản, sự thân thiết giữa “quan” và “dân” hãy thể hiện mình là người bình dị và mến khách.
Liên hệ:

    Tôi hiện là sinh viên năm thứ 3 chuyên ngành Giáo dục học – Học Viện Quản Lý Giáo Dục bản thân tôi cũng rất tích cực tham gia vào các hoạt động của trường đặc biệt là lĩnh vực tình nguyện. trong quá trình học tập tại trường, Bên phòng công tác – chính trị luôn phát động các cuộc thi liên quan tới Người, về tư tưởng tấm gương và đạo đức Hồ Chí Mình.
    Đặc biệt là cuộc thi văn nghệ “ Tiếng hát toàn Học viện với nội dung về Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2009 thu hút được hấu hết tất cả sinh viên toàn trường tham gia
    Là một trường mới được thành lập lên các phong trào đưa ra chưa được toàn diện nhưng đã thu hút được số đông tham gia, các chủ đề luôn được đưa ra về ca ngợi Đảng, Bác Hồ kính yêu
     Các cuộc thi không chỉ liên quan tới phòng chính trị dưới sự chỉ đạo của Chi Bộ Đảng nhà trường, còn có sự tham gia tích cực của Đoàn thanh niên Học Viện với các cuộc thi với chủ đề học tấp và làm theo tấm gương đạo đức của Người, gắn kết trong phong trào toàn diện về văn hóa văn nghệ thể dục thể thao
     Gắn kết trong phòng trào học tập, chống tiêu cực trong thi cử, thi đua học tập tốt theo gương Bác
    Bản thân là bí thư lớp tôi cũng thường xuyên đưa ra những buổi thảo luận ở tại lớp về Tấm gương đạo đức hồ chí mình, đặc biệt là cuộc thi kể chuyện về Bác đã được tất cả thành viên trong chi đoàn tham gia, qua các bài hùng biện về Người chúng tôi càng hiểu thêm về Bác về công lao to lớn, về tư tưởng bất hủ của Người và với nguyện vọng là thế hệ đi sau chúng tôi sẽ cố gắng phát huy tất cả những sở trưởng thế mạnh của mình sao cho hợp với chuẩn mực của đạo đức của tư tưởng của người đã để lại. Tất cả thành viên trong lớp đều học tập đạt kết quả cáo 100% học lực Khá trở lên và cố gắng phấn đấu để trở thành những Đoàn viên tốt để đạt được vào chỉ tiêu học cảm tình Đảng của trường…
     Thực hiện đường lối tiết kiệm trong các cuộc thi, các hoạt động, đưa sinh viên tham quan Lăng Chủ Tich để hiểu thêm về lãnh tụ của đất nước….
 Từ khi Đảng phát động phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” toàn thể sinh viên Học Viện luôn có ý thức phấn đấu trong công tác học tập, tu dưỡng và rèn luyện bản thân, và đã đạt được nhiều thành tích cao trong công tác của trường, lớp. luôn lấy tư tưởng của người làm ánh sáng soi đường cho chúng ta, tiến bước đi lên như hành trang để tiến tới thành công.
    Để thay cho lời kết của mình tôi xin đưa ra hai câu nói bất hủ của Người:
     « Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi.”
    “Cô giáo, thầy giáo trong chế độ ta cần phải góp phần vào công cuộc xây dựng XHCN. Phải có chí khí cao thượng, phải "tiên ưu, hậu lạc", nghĩa là khó khăn thì chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ. Người thầy giáo tốt, thầy giáo xứng đáng là thầy giáo, là người vẻ vang nhất. Dù tên tuổi không đăng lên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy tốt là những anh hùng vô danh....”
  Tôi, bạn và bạn nữa…cùng chung tay góp sức vì một Việt Nam bừng sáng trên trường quốc tế, cùng học tập thi đua, nỗ lực tất cả, chúng ta có đầy đủ điều kiện để đi lên, chúng ta phải hứa với lòng mình là sẽ thành công. Cùng đoàn kết gắn bó, hợp sức vì ở đó ta mới thấy mình tự tin hơn, vững vàng hơn
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”
Câu 11: Phân tích những đặc trưng cơ bản của mô hình chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng?
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta xây dựng có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là mục tiêu cuối cùng của chế độ kinh tế ở nước ta, chứ không phải chỉ xóa bỏ bóc lột, áp bức, bất công, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Mục tiêu trên cũng chính là nguyện vọng, mơ ước của nhân dân tiến bộ trên thế giới, là cái đích của xã hội loài người nói chung.
Ở Việt Nam, trong điều kiện xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thì yêu cầu phấn đấu cho một xã hội “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh” tất yếu theo con đường xã hội chủ nghĩa, là mục tiêu chiến lược vô cùng đẹp đẽ, đồng thời là một khẩu hiệu đoàn kết, tập hợp lực lượng rộng rãi xây dựng xã hội mới. Điều quan trọng là bằng đường lối, chính sách và pháp luật mà Đảng, Nhà nước ta lãnh đạo, quản lý, điều hành toàn xã hội tiến dần lên chủ nghĩa xã hội.
Hai là, do nhân dân làm chủ
Theo Hồ chủ tịch, dân chủ trong lĩnh vực chính trị là dân làm chủ nhà nước. Nhà nước là của dân, do dân, vì dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo thực hiện dân chủ với đa số nhân dân và chuyên chính với thiểu số phản động, chống lại nhân dân.
Nếu vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền thì vấn đề cơ bản của một chính quyền là ở chỗ nó thuộc về ai, phục vụ cho quyền lợi của ai. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta xây dựng thì nhân dân lao động làm chủ.
Nhân dân lao động làm chủ được bảo đảm trên thực tế, trong mọi mặt đời sống xã hội, thực hiện trên cả hai hình thức: làm chủ đại diện và làm chủ trực tiếp theo qui định của pháp luật.
Quá trình thực hiện quyền làm chủ của nhân dân là một quá trình phấn đấu, hoàn thiện từng bước, từ thấp đến cao, phụ thuộc vào kết quả phát triển xã hội và phát triển con người.
Ba là, có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu
Cả mặt thực tế, cả logic – lý luận khoa học đều chứng minh rằng, xã hội xã hội chủ nghĩa là sự kế tiếp sau xã hội tư bản chủ nghĩa, có nhiệm vụ giải quyết những mâu thuẫn mà chủ nghĩa tư bản đã không thể giải quyết triệt để. Đặc biệt là giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu xã hội hóa ngày càng tăng của lực lượng sản xuất ngày càng hiện đại hơn với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Do đó, lực lượng sản xuất của xã hội xã hội chủ nghĩa, khi nó hoàn thiện, phải cao hơn so với chủ nghĩa tư bản.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ, chủ nghĩa xã hội không xóa bỏ chế độ tư hữu nói chung mà chủ yếu xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Bởi vì chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa đã nô dịch, áp bức bóc lột giá trị thặng dư đối với đa số nhân dân lao động, đem lại lợi nhuận ngày càng cao cho thiểu số các tập đoàn tư bản lũng đoạn và giai cấp thống trị xã hội.
Thực hiện công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu là cơ sở kinh tế để xóa việc sinh ra giai cấp đối kháng, cơ sở kinh tế của chế độ người bóc lột người. Song, chế độ công hữu chỉ có thể được xây dựng và hoàn thiện tưng bước trên cơ sở phát triển lực lượng sản xuất ngày càng hiện đại.
Xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa cũng đồng thời là xây dựng chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. Tuy nhiên, quá trình xây dựng chế độ công hữu không thể nóng vội mà cần chú trọng đến các yếu tố hoàn cảnh lịch sử.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kết cấu xã hội còn đan xen nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội; cơ sở kinh tế quá độ còn nhiều thành phần vận hành theo cơ chế sản xuất hàng hóa, quan hệ thị trường, vẫn tồn tại những quan hệ kinh tế cụ thể như thuê mướn lao động… Cá nhân người này vẫn có thể còn bóc lột những cá nhân khác. Đó chỉ là những quan hệ bóc lột cụ thể chứ không phải xem xét trên cả một chế độ xã hội, giai cấp này bóc lột các giai cấp, tầng lớp khác. V.I.Lênin và Đảng Cộng sản Nga, sau một thời gian áp dụng “Chính sách cộng sản thời chiến” đã bãi bỏ chính sách này khi bước vào thời kỳ quá độ, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là thời kỳ thực hiện “Chính sách kinh tế mới” với kinh tế hàng hóa 5 thành phần và tự do lưu thông hàng hóa trên thị trường nhiều loại sản phẩm. Đó là một đặc trưng kinh tế của thời kỳ quá độ và cả của chủ nghĩa xã hội. Việc xóa bỏ một cách nóng vội những đặc điểm trên, sa vào bệnh chủ quan duy ý chí trong mấy thập kỷ cuối thế kỷ XX của các nước xã hội chủ nghĩa là trái với quan điểm của V.I.Lênin về nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Bốn là, có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Đảng ta khẳng định: Nền văn hóa mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với những đặc trưng cơ bản là đại chúng, dân tộc, hiện đại và nhân văn, được xây dựng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên. Tiên tiến không chỉ được thể hiện về nội dung tư tưởng mà còn cả trong hình thức biểu hiện và trong các phương tiện chuyển tải nội dung văn hóa.
Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân-gia đình-làng xã-Tổ quốc; là lòng nhân ái, khoan dung; trọng nghĩa tình, đạo đức; là đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống, v.v… Bản sắc dân tộc còn đậm nét cả trong hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo của văn hóa.
Nền văn hóa chúng ta đang xây dựng theo định hướng xã hội chủ nghĩa mang những đặc trưng cơ bản là đại chúng, dân tộc, hiện đại, nhân văn, phát triển theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Phát triển sự nghiệp văn hóa xã hội chủ nghĩa là nhằm bồi dưỡng con người Việt Nam về trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, nhân cách, xây dựng thế giới quan khoa học, nhân sinh quan xã hội chủ nghĩa, hướng con người tới những giá trị chân, thiện, mỹ. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự nghiệp phát triển văn hóa cần hướng vào việc xây dựng con người Việt Nam có tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có ý thức tự cường dân tộc, trách nhiệm cao trong lao động, có lương tâm nghề nghiệp, có tác phong công nghiệp…
Năm là, con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, năm 1848, Mác, Ănghen không chỉ luận giải về vấn đề giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc mà vấn đề giải phóng con người được các ông để cập khá sâu sắc. Các ông cho rằng, “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.
Con người và cuộc đấu tranh nhằm giải phóng con người cũng giữ vị trí rất quan trọng trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ chủ tịch. Hồ chủ tịch nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp, giải phóng được con người, cũng chỉ khi các giai cấp và mỗi con người đều được giải phóng thì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc mới hoàn toàn triệt để.
Giải phóng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của xã hội. Giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công và đồng thời phải hướng tới một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho con người. Con người được phát triển toàn diện, cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức, phong phú về tinh thần, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng không chỉ được thể hiện trong đặc trưng tổng quát dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mà còn được thể hiện qua đặc trưng về con người trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Về phương diện con người, chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo: tất cả vì con người, cho con người và phát triển con người toàn diện. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa. Để có con người xã hội chủ nghĩa phải xác định và hiện thực hóa hệ giá trị phản ánh nhu cầu chính đáng của con người trong xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng.
Sáu là, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X có đoạn: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng. Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tri thức là người dân tộc thiểu số. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận. Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc."
Bảy là, có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo
Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam xuất phát từ định hướng xã hội chủ nghĩa mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội có tính mục tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hóa. Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách pháp luật, bảo đảm cho Nhà nước không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực hành dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.
Tám là, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chủ trương: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,  hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghãi giàu mạnh”. Báo cáo Chính trị xác định: “Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp  hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.
Câu 12: Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ (1954-1975) như thế nào? ý nghĩa lịch sử ?
Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ mới với đặc điểm: Đất nước tạm thời chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị – xã hội đối lập nhau. Miền Bắc đã có hoà bình, dưới sự lãnh đạo của Đảng đang bắt đầu xây dựng một xã hội mới. Miền Nam vẫn còn dưới ách đô hộ, áp bức của chủ nghĩa đế quốc. Con đường phát triển của cách mạng nước ta lúc này được Đảng ta xác định là phải tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược:
Một là, tiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa vững chắc của cả nước.
Hai là, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Như vậy, đặc điểm lớn nhất, nét độc đáo của cách mạng Việt Nam thời kỳ này là một Đảng thống nhất lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược. Tuy mỗi miền thực hiện một nhiệm vụ chiến lược khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó cách mạng miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Cách mạng miền Nam giữ vị trí quan trọng, tác động trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Hơn 20 năm cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, mặc dù gặp nhiều khó khăn trở ngại chồng chất, đặc biệt từ năm 1965 trở đi miền Bắc phải trực tiếp đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại rất ác liệt của đế quốc Mỹ, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân miền Bắc đã kiên cường trong sản xuất và chiến đấu, giành được những thành tựu to lớn, đồng thời chi viện đắc lực cho miền Nam…Hàng triệu tấn lương thực và vũ khí, trang bị; hàng vạn thanh niên nam nữ hăng hái lên đường vào miền Nam chiến đấu. Miền Bắc đã dốc sức vào chiến tranh cứu nước và giữ nước với toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa của cách mạng cả nước, xứng đáng là pháo đài vô địch của chủ nghĩa xã hội.
Đế quốc Mỹ, đã dùng mọi thủ đoạn, thử nghiệm mọi chiến lược, sử dụng mọi vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Qui mô, tính chất cũng như mức độ ác liệt của cuộc chiến tranh mà nhân dân ta phải đương đầu chịu đựng chưa từng có trong lịch sử. Song, nhân dân miền Nam đã kiên cường chịu đựng gian khổ hy sinh, kiên quyết đánh thắng đế quốc Mỹ xứng đáng với danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”, sát cánh cùng đồng bào miền Bắc đánh bại mọi âm mưu, chiến lược của đế quốc Mỹ, góp phần trực tiếp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Trải qua 21 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước đã chiến đấu kiên cường anh dũng với sự đồng tình ủng hộ của bạn bè quốc tế; bằng cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa xuân 1975, với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp đánh Mỹ cứu nước sẽ mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã kết thúc vẻ vang 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước, mở ra thời kỳ mới – thời kỳ cả nước độc lập thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội.

Câu 13: Đảng lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) như thế nào? ý nghĩa lịch sử của thắng lợi?

Vừa mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bị các nước đế quốc, các thế lực phản động cấu kết với nhau chống phá rất quyết liệt hòng tiêu diệt chính quyền cách mạng còn non trẻ. Nhà nước ta lúc này hết sức khó khăn: Nền kinh tế nghèo nàn xơ xác, nạn đói hoành hành, đất nước bị bao vây bốn phía; vận mệnh của Tổ quốc như “ngàn cân treo sợi tóc”. Song, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời đề ra những chủ trương, quyết sách đúng đắn, toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng… Với đường lối cực kỳ sáng suốt, vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa mềm dẻo về sách lược, Đảng đã huy động được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc vượt qua muôn vàn khó khăn, nguy hiểm, củng cố giữ vững chính quyền cách mạng, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp.
Bất chấp nguyện vọng yêu chuộng hòa bình của nhân dân ta, mặc dù chúng ta đã nhân nhượng, chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta một lần nữa. Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Đáp lời kêu gọi đó, nhân dân cả nước đã nhất tề đứng lên với quyết tâm: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, Đảng ta đã tổ chức, lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi khó khăn, giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược.
Chiến thắng Điện Biên Phủ (tháng 5-1954) đã đi vào lịch sử dân tộc ta như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa của thế kỷ XX, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi, đột phá thành trì của đế quốc, báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn không tránh khỏi của chủ nghĩa thực dân cũ. Đánh giá ý nghĩa lịch sử của thắng lợi này, Hồ Chủ tịch viết: “Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là thắng lợi của các lượng hòa bình, dân chủ và CNXH thế giới”…
Thắng lợi đó đã làm sáng tỏ một chân lý: Trong điều kiện thế giới ngày nay, một dân tộc dù nhỏ yếu nhưng một khi đoàn kết đứng lên, kiên quyết đấu tranh dưới sự lãnh đạo của chính Đảng Mác-Lênin để giành độc lập và dân chủ thì có đầy đủ lực lượng để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Câu 14 : Đảng đã lãnh đạo đấu tranh và khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám năm 1945 như thế nào?

Với đường lối cách mạng, cứu nước đúng đắn, Đảng ta đã quy tụ đoàn kết xung quanh mình tất cả các giai cấp và tầng lớp yêu nước không phân biệt dân tộc, tôn giáo xây dựng nên lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp trong cả nước, đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược và bọn phong kiến tay sai. Qua 15 năm (1930-1945) lãnh đạo cách mạng, trải qua đấu tranh gian khổ, mặc dù gặp phải những tổn thất hy sinh to lớn nhưng Đảng vẫn giữ vững ý chí chiến đấu, kiên định cách mạng, trung thành với mục tiêu lý tưởng của mình. Ba cao trào cách mạng lớn (1930-1931; 1936-1939; 1939-1945) là ba cuộc tổng diễn tập cách mạng chuẩn bị lực lượng, tạo cơ sở giành thắng lợi cho cuộc chiến đấu mới. Nắm chắc thời cơ lịch sử, với một nghệ thuật lãnh đạo và tổ chức khởi nghĩa tài tình, Đảng ta đã lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công trọn vẹn. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân Việt Nam đã vùng lên đập tan xiềng xích nô lệ của chế độ thực dân, lật nhào chế độ phong kiến tay sai, giành chính quyền về tay nhân dân.
Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa- Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đưa dân tộc ta bước sang một kỷ nguyên mới- kỷ nguyên độc lập, tự do tiến lên CNXH. Đánh giá ý nghĩa lịch sử của thắng lợi này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Câu 15: Vì sao nói Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt quyết định của cách mạng Việt Nam ?

Từ năm 1858, thực dân Pháp xâm lược và từng bước thiết lập chế độ thống trị rất tàn bạo, hà khắc và phản động của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta, xã hội Việt Nam đã có những biến đổi lớn: Từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ thuộc địa nửa phong kiến; hai mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu trong xã hội ngày càng gay gắt. Đó là, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với đế quốc Pháp xâm lược và giữa nhân dân ta chủ yếu là nông dân với bọn địa chủ, phong kiến tay sai, chỗ dựa của thực dân Pháp.
Nhiệm vụ chống đế quốc Pháp xâm lược và nhiệm vụ chống bọn phong kiến tay sai là không tách rời nhau. Đó là yêu cầu của cách mạng Việt Nam. Với truyền thống yêu nước nồng nàn, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược và bọn phong kiến tay sai ở khắp mọi nơi, dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu và các nhà yêu nước đương thời theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Song các phong trào đấu tranh đó đều thất bại, nguyên nhân chủ yếu là chưa tìm được con đường cứu nước đúng đắn, chưa có một lực lượng xã hội, một giai cấp tiên tiến và một tổ chức cách mạng chặt chẽ đủ sức lãnh đạo phong trào. Cách mạng Việt Nam đứng trước sự bế tắc và khủng hoảng về đường lối cứu nước.
Giữa lúc đó, Nguyễn ái Quốc – người con ưu tú của dân tộc Việt Nam ra đi tìm đường cứu nước. Sau 10 năm bôn ba khắp năm châu bốn bể đã bắt gặp được chủ nghĩa Mác-Lênin và tìm được con đường cứu nước đúng đắn, Người nói: Muốn cứu nước giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản. Đây là bước ngoặt đánh dấu sự chuyển biến quyết định mở đường thắng lợi cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.
Nguyễn ái Quốc đã truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam, sáng lập và trực tiếp huấn luyện Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ra báo Thanh niên, xuất bản tác phẩm Đường Kách Mệnh để tuyên truyền, giáo dục bồi dưỡng, đào tạo cán bộ tiếp tục chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng.
Từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930, tại Quảng Châu – Trung Quốc, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản được triệu tập dưới sự chủ trì và lãnh đạo của Bác Hồ. Hội nghị nhất trí thành lập một đảng thống nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua các văn kiện: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt do Nguyễn ái Quốc khởi thảo. Đó là cương lĩnh và điều lệ đầu tiên của Đảng…Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang ý nghĩa lịch sử như là Đại hội thành lập Đảng.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc trong thời đại mới; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác- Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử; là kết quả của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của các chiến sĩ cách mạng đứng đầu là Bác Hồ kính yêu của chúng ta.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng tỏ rằng: Giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng. Đó cũng là cột mốc lớn đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài mấy chục năm đã được giải quyết. Từ đây, cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng Mác- Lênin chân chính với đường lối cách mạng khoa học và sáng tạo là cơ sở lý luận vững chắc đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc phát triển của đất nước.

Câu 16: Vì sao hiện nay Việt Nam không chấp nhận đa nguyên, đa đảng ?

Các khái niệm :
*** Nguyên: là hệ tư tưởng.
*** Đa Nguyên: là nhiều hệ tư tưởng, lập trường
Hiện nay ĐCSVN chỉ lấy mình CN Mác-Lênin và tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Vì vậy VN không chấp nhận đa nguyên.
*** Đa Đảng: nhiều Đảng cùng tồn tại trong một quốc gia
– Lịch sử ở Việt Nam cũng có thời kỳ đa đảng. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản còn có sự tồn tại của hai đảng đối lập là Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mạng đồng minh hội, khi quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam, hai đảng đó cũng giải tán theo. Có thời kỳ ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, còn tồn tại Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam. Cả hai đảng này đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau đó hai đảng này đã tuyên bố tự giải tán và chỉ còn Đảng Cộng sản Việt Nam. Vai trò độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sản phẩm tự nhiên, mang tính khách quan của lịch sử đất nước.
– Nhân dân Việt Nam đã thừa nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân che chở, xây dựng. Nhân dân Việt Nam trìu mến gọi Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng ta”. Bài học từ sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông u còn nguyên giá trị. Từ khi chấp nhận bỏ Điều 6, Hiến pháp Liên Xô, đã dẫn đến tình trạng xuất hiện đa đảng và hậu quả là Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, chế độ XHCN ở Liên Xô sụp đổ. Các tầng lớp nhân dân Việt Nam nhận thức rõ hơn ai hết, nếu chấp nhận đa đảng, chế độ XHCN sẽ sụp đổ, đất nước sẽ rối loạn, đời sống nhân dân cả vật chất và tinh thần rơi vào tay các thế lực không trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc ta.
– Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định trong thực tiễn 85 năm qua của cách mạng Việt Nam.
– Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã giải quyết thành công cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.
– Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc, đưa sự nghiệp đó đến thắng lợi hoàn toàn.
– Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới đất nước gần 30 năm qua giành những thắng lợi to lớn.
– Tất cả những lý do trên khẳng định rằng chỉ có Đảng ta mới xứng đáng là người duy nhất đảm nhiệm vai trò lãnh đạo CMVN. Do vậy để nâng cao sức chiến đấu, để củng cố niềm tin của nhân dân, Đảng ta cần phải thường xuyên xây dựng và chỉnh đốn Đảng về mọi mặt: tư tưởng chính trị, đạo đức và tổ chức :
* Thứ nhất về tư tưởng : Giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân kiên định, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng, hệ tư tưởng của Đảng.
Công tác giáo dục phải làm cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng ăn sâu, bám chắc vào đời sống chính trị tinh thần của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trên cơ sở nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù chống phá sự nghiệp cách mạng nư­ớc ta, phá hoại khối đoàn kết trong Đảng, trong toàn xã hội.
* Thứ hai về đạo đức : Ra sức học tập, rèn luyện đạo đức, lối sống cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.Trước hết phải nâng cao kiến thức mọi mặt cho cán bộ, đảng viên, trong đó tập trung bồi dưỡng lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta xác định việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống là chế độ bắt buộc, là tiêu chuẩn để phân loại, đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên.
* Thứ ba về tổ chức: Củng cố tổ chức, chấp hành nghiêm các nguyên tắc, chế độ sinh hoạt của Đảng.
Đây là cơ sở để củng cố tổ chức, bảo đảm đoàn kết thống nhất, kỷ luật trong Đảng. Vì vậy, phải quán triệt, chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, chế độ tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng. Kiên quyết chống quan điểm, tư tưởng phủ nhận, xuyên tạc, bóp méo nguyên tắc, chế độ xây dựng Đảng, hòng làm cho Đảng suy yếu về tổ chức, dẫn đến biến chất Đảng.
Câu 17: Trình bày hướng phấn đấu của bản thân để trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam ?
Đảng Cộng sản Việt Nam là lá cờ đầu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Tôi có nguyện vọng được đứng trong hàng ngũ của Đảng, sau khi được học lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng, tôi càng nhận thức được rõ hơn về Đảng Cộng sản và càng quyết tâm phấn đấu để trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tôi đã xác định cho mình động cơ vào Đảng: Đảng là tổ chức các mạng có sứ mệnh cao cả đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh cho độc lập và chủ nghĩa xã hội. Được đứng trong hàng ngũ của Đảng là được đứng trong một tổ chức của những người cùng chung chí hướng đấu tranh xây dựng một xã hội tốt đẹp, dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn mình. Khi vào Đảng, bản thân tôi sẽ được phục vụ cách mạng, được phục vụ nhân dân, được nhân dân tin cậy và yêu mến. Động cơ vào Đảng của tôi là muốn góp sức mình xây dựng đất nước ta ngày càng tốt đẹp hơn nữa.
Để trở thành một đảng viên, tôi xác định bản thân phải rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng. Tôi quyết kiên định mục tiêu, lý tưởng đã chọn, trong bất cứ tình huống khó khăn nào cũng không giao động, giảm sút niềm tin và ý chí chiến đấu. Đồng thời, tôi rèn luyện cho mình tinh thần độc lập, sáng tạo. Bản thân tôi đã nỗ lực học tập, nắm vững lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng. Tôi tự rèn luyện mình qua thực tế hoạt động chính trị, xã hội. Bên cạnh đó tôi trau dồi đạo đức cách mạng, đi đôi với chống chủ nghĩa cá nhân. Đạo đức cách mạng cần phải tu dưỡng rèn luyện suốt đời, bởi vậy tôi sẽ củng cố hàng ngày để có được phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng. Tôi nhận thức được, trong bối cảnh ngày nay, đạo đức cách mạng là ý chí, quyết tâm và góp sức đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành quốc gia giàu mạnh, văn minh, nhân dân làm chủ xã hội và có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Tôi quyết tâm đi theo đường lối của Đảng: kết hợp hài hoà ba loại lợi ích: lợi ích toàn xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ.
Để phấn đấu trở thành một người đảng viên, tôi không quên nâng cao năng lực, hoàn thành tốt những nghiệm vụ được giao. Đối với một sinh viên như tôi – còn ngồi trên ghế nhà trường, thì nhiệm vụ trọng tâm là việc học. Tôi phấn đấu học tập thật tốt, hoạt động ngoại khoá hăng say và hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó tôi cũng rất coi trọng việc học tập chính trị. Đó là việc tham gia đầy đủ và có hiệu quả các buổi sinh hoạt chính trị công dân sinh viên, tham gia lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng…
Truyền thống quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự gắn bó mật thiết, máu thịt với nhân dân. Để phấn đấu được đứng trong hàng ngũ của Đảng, tôi hiểu rằng mình phải gắn bó với tập thể, với nhân dân, tích cực tham gia hoạt động đoàn thể, công tác xã hội. Đối với tôi, đó chính là tập thể lớp, là ngôi trường đại học của mình. Tôi cũng tham gia những hoạt động đoàn thể và công tác xã hội, như những buổi ngoại khoá, tình nguyện…
Người phấn đấu vào Đảng phải tích cực tham gia xây dựng Đảng. Tôi nhận thức được rằng, bằng sự hiểu biết và kinh nghiệm thực tế của mình, cần đóng góp ý kiến với chi bộ, đảng bộ. Ngoài ra, cần tham gia xây dựng Đảng ở cơ sở bằng những việc làm như: Tích cực hưởng ứng các phong trào, các hoạt động triển khai chủ trương, nhiệm vụ do đảng bộ, chi bộ đề ra với tinh thần chủ động, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu cao nhất. Góp phần tích cực đưa những chủ trương, nhiệm vụ đó vào cuộc sống. Chủ động nắm bắt tình hình thực tế, những tư tưởng của quần chúng, kịp thời phản ánh đề xuất với tổ chức Đảng. Tích cực mạnh dạn tham gia góp ý kiến đối với lãnh đạo của tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên. Tích cực và kiên quyết đấu tranh bảo vệ Đảng, giữ vững ổn định chính trị – xã hội ở cơ sở, đơn vị.
Trên đây là những nhận thức và suy nghĩ của bản thân tôi về hướng phấn đấu để trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Dù bản thân còn nhiều hạn chế nhưng tôi sẽ cố gắng hết sức mình để sớm được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Để làm được điều đó, tôi xin hứa sẽ không ngừng học tập và rèn luyện, góp sức mình để xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh.
Sau khi được học tập và bồi dưỡng kiến thức về Đảng tại Trung tâm bồi dưỡng Chính trị thuộc Đảng ủy khối cơ quan Trung Ương tôi đã có cơ hội hiểurõ hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng của sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công cuộc giải phóng và giành độc lập dân tộc. Hiểu biết và nắm bắt được những kiến thức cơ bản trong cương lĩnh xây dựng đất nước qua cácthời kỳ đồng thời còn thấy được vai trò quan trọng của việc học tập và làm theotư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Qua những buổi học này, tôi cũngđã hiểu những nội dung cơ bản trong Điều lệ của Đảng cộng sản Việt Nam. Qua đó, không ngừng phấn đấu, học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ kiến thức, năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của mình, để cùng tham gia công cuộc xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, chống lại sự phá hoại của kẻ thù.

Câu 18: Vai trò của Đảng trong bối cảnh xã hội hiện nay ?

Trải qua lịch sử đấu tranh cách mạng, nhất là trải nghiệm thực tiễn lãnh đạo và cầm quyền, Đảng đã có bước trưởng thành, tích lũy được nhiều kinh nghiệm và đúc rút được những bài học quý giá.
Trước tình hình mới và yêu cầu mới hiện nay, Đảng đã xác định, phải làm cho Đảng ngang tầm nhiệm vụ, phải ra sức nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cũng như bản lĩnh cầm quyền của Đảng. Xây dựng Đảng được coi là then chốt, là nhiệm vụ hàng đầu, quan trọng nhất trong nhiệm kỳ khóa XI.
Gần đây, Hội nghị Trung ương 4, khóa XI đã ban hành Nghị quyết về “một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay.” Trong những vấn đề cấp bách đặt ra đối với Đảng hiện nay, tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp, kể cả ở cấp cao là vấn đề cấp bách nhất, xuyên suốt, bao trùm. Sự suy thoái đó làm giảm sút nghiêm trọng lòng tin của đảng viên, của quần chúng nhân dân đối với Đảng. Nếu không đẩy lùi sự suy thoái đó thì sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ sẽ bị thách thức.
Trong thời điểm Đảng đang tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết, đang diễn ra cuộc chỉnh đốn tự phê bình và phê bình ở tất cả các cấp, các tổ chức Đảng thì toàn Đảng toàn dân hiện nay lại đang đóng góp ý kiến cho bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, trong đó nổi lên vấn đề về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.
Đa số ý kiến đều tán thành việc hiến định vai trò, thẩm quyền, trách nhiệm của Đảng ở điều 4 bản Hiến pháp sửa đổi. Song cũng có không ít người đề nghị xóa bỏ điều 4, áp dụng mô hình đa Đảng, đa nguyên chính trị.
Đã thảo luận thì ý kiến, quan điểm khác nhau, trái nhau cũng là chuyện bình thường. Chân lý chỉ sáng tỏ qua thực tiễn, qua thảo luận tranh luận, đối thoại trên tinh thần dân chủ, tôn trọng, lắng nghe nhau, “văn hóa là biết lắng nghe” (Likhachov).
Song không nên quên một thực tế là, những khi Đảng gặp khó khăn và suy yếu thì đó là lúc xuất hiện những luồng dư luận, ý kiến hoặc hoài nghi, hoặc công kích, phê phán Đảng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.
Thực tế đó cho thấy, việc Đảng ra sức xây dựng chỉnh đốn đội ngũ của mình, làm cho Đảng trong sạch vững mạnh là hết sức quan trọng và trở nên cấp bách. Nếu Đảng mạnh và có uy tín rộng lớn trong dân, trong xã hội, nội bộ Đảng đoàn kết thống nhất, lãnh đạo cấp cao của Đảng vững vàng, sáng suốt về phương hướng và bản lĩnh, quan hệ giữa Đảng với dân gắn bó mật thiết thì vai trò lãnh đạo của Đảng sẽ giữ vững được. Điều quan trọng, cốt tử nhất là ý Đảng thuận với lòng dân. Có sự ủng hộ, giúp đỡ của dân, của toàn dân tộc thì không khó khăn nào không thể vượt qua.
Từ thực tế như vậy, cần nhất lúc này là an dân, làm yên lòng dân bằng cách quan tâm tới đời sống của dân, làm cho dân phấn khởi yên ổn làm ăn, đảm bảo những điều kiện cho dân có sự an toàn, bình ổn để phát triển. Được sự ủng hộ của dân với một đa số tuyệt đối thì sự tồn tại, phát triển và thực thi chương trình hành động của Đảng, Nhà nước với xã hội sẽ thuận lợi.
Nếu để xảy ra sự phân tâm và phân liệt trong tư tưởng, tổ chức và hành động của Đảng thì Đảng không thể đứng vững, không thể có sức sống. Nếu lại mất phương hướng và mắc sai lầm về nguyên tắc thì Đảng sẽ bị thách thức cả sinh mệnh lẫn sự tồn vong.
Hơn 20 năm về trước, chính biến ở Liên Xô, Đông Âu, làm cho chế độ xã hội chủ nghĩa tan vỡ, hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, tan rã, thể chế và quyền lực thay đổi, làm đảo lộn trật tự xã hội, gây nên sự điêu đứng trong tình cảnh sống của dân. Tất cả bắt đầu trực tiếp, khởi phát từ sai lầm chính trị nguy hiểm là từ bỏ điều 6 trong Hiến pháp Xô Viết, chấp nhận đa nguyên ý thức hệ, đa đảng phái, kể cả Đảng đối lập. Vào thời điểm đó, Đảng Cộng sản Liên Xô còn từ bỏ cả nguyên tắc tập trung dân chủ, làm cho Đảng nhanh chóng mất sức chiến đấu, mất vai trò lãnh đạo, cầm quyền, Đảng nhanh chóng trở thành một tổ chức mà hành động ngược lại, không vì dân, chỉ vì mình (vì lợi ích nhóm ở thượng tầng). Thực tế biến dạng phũ phàng đó bộc lộ ra, đáng để cho chúng ta rút kinh nghiệm, tự mình cảnh báo chính mình về những nguy cơ tiềm ẩn có thể xảy ra.
Ghi vào điều 4 trong Hiến pháp về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội đã khó, chứng thực trong thực tiễn về Đảng phát huy vai trò như thế nào, trong lãnh đạo Nhà nước và xã hội còn khó khăn gấp bội. Khó mấy cũng phải làm cho bằng được, làm cho dân tin vào phẩm chất xứng đáng và tư cách lãnh đạo, cầm quyền chính đáng của Đảng theo Hiến pháp và pháp luật, theo thể chế dân chủ-pháp quyền.

Bài đăng phổ biến từ blog này

GIẤY XÁC NHẬN VIỆC CHẾT CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG

2500 nhóm zalo

Phục lục 23, con dấu., mẫu chứng thực